| Subject: Kiem nghiem yeu to Thien Thoi cua TL |
Author:
TruMeTin
|
[
Next Thread |
Previous Thread |
Next Message |
Previous Message
]
Date Posted: 08:21:41 05/19/03 Mon
Nếu căn cứ vào các sao thuộc ṿng Thái Tuế xuật hiện tại đại hạn th́ ta có bảng tổng kết dưới đây:
Neu can cu vao cac sao thuoc vong Thai Tue xuat hien tai dai han thi ta co bang tong ket duoi day:
TUỔI &am p;nb sp; CÁC BỘ SAO TẠI ĐẠI HẠN &am p;nb sp;
&am p;nb sp; TUẾ PHÙ HỔ DƯỠNG TỬ PHUC TANG TUẾ ĐIẾU AM LONG TRỰC
Thân Tí Th́n Hoa Sinh nh 853;p khắc xuất sinh xuất
Tỵ Dậu Sửu Hoa khắc nhập khắc xuất sinh xuất
Dần Ngọ Tuất Hoa sinh nhập khắc nhập khắc xuất
Hợi Măo Mùi Hoa sinh nhập khắc nhập sinh xuất
Cũng cần nêu thêm hai yếu tố mà cụ Thiên Lương cho rằng là phụ khi giải đoán đại hạn , đó là yếu tố địa lợi và nhân ḥa
địa lợi (CỦA ĐẠI HẠN) là hành cung và hành mệnh có tương đắc hay không? Nếu tương đắc th́ tính mệnh được phần nào vững chắc yên lành
nhân ḥa là ḷng người. Ḷng người thuận hay nghịch là tính theo tinh đẩu : tinh đẩu của hạn có cùng trong hệ phái của Mệnh là cùng một bộ trong thế lưỡng nghi và hết sức loại tránh Lục Sát tinh nhất là Không Kiếp. Nếu Mệnh ở thế Tử Phủ Sát Phá Tham hay Cơ Lương Cự Nhật, nếu gặp đồng bộ, nghĩa là cùng phe phái th́ ḥa thuận, bằng như đụng độ khác phái th́ hẳn là có sự khó khăn, gia thêm Lục Sát tinh ngươi có số càng thêm chuyện, vất vả là may. Nói rơ hơn th́ khi xét nhân ḥa phải xem bộ chính tiinh tại đại hạn có cùng hay khác thế lưỡng nghi với bộ chính tinh của Mệnh. Cụ Thiên Lương chia 14 Chính tinh thành 2 thế lưỡng nghi Âm Dương : Dương ( Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Liêm Tham ) , Âm ( Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật), và tiếp tục phân thành Tứ Tượng như sau :
Tử Phủ Vũ Tướng (Thiếu Dương) : 60% thực hành ,40% lư thuyết
Sát Phá Liêm Tham (Thái Dương) : 100% thực hành
Cơ Nguyệt Đồng Lương ( Thái Âm) : 100% lư thuyết
Cự Nhật (Thiếu Aam): 60% lư thuyết , 40% thực hành
Nếu chính tinh đồng bộ cùng phe phái, cùng thế lưỡng nghi như Tử Phủ Vũ Tướng , Sát Phá LIêm Tham th́ khi chuyển vận gặp nhâu vẫn ít thay đổi , dễ dàng hơn là gặp bộ khác thế lưỡng nghi là Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật (nếu thêm trung tinh đắc cách tam hợp th́ càng được tốt đẹp. Nếu như khác phe phái , khác thế lưỡng nghi như Cơ Nguyệt Đồng Lương (CNDL) vận hành gặp Sát Phá Liêm Tham (SPLT) th́ hẳn là có sự đụng chạm nặng nề, phần thiệt hại thuộc về phe yếu thế là CNDL (nếu gia thêm Sát tiinh nhập hạn th́ sẽ gặp nhiều chuyện không may)
Từ thế của bốn bộ chính tinh (Tứ tượng) trên muốn được thêm hoàn mỹ và thành công th́ theo cụ cần phải có tối thiểu :
Bộ Tử Phủ Vũ Tướng cần nhất là Tả Hữu Thai Tọa
Bộ Sát Phá Liêm Tham cần nhất là Lục Sát tinh và Thai Cáo
Bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương cần nhất là Khôi Việt và Xương Khúc
Bộ Cự Nhật cần nhất là Hồng Đào Quang Quư
Riêng bộ Nhật Nguyệt nếu như lạc hăm ngoài bộ Đào Hồng Hỉ ít nhất phải đứng cặp với một trong 3 bộ hợp cách với nó là Xương KHúc, Long Phượng, Quang Quí
Cụ Thiên Lương cho rằng địa lợi và nhân ḥa là hai yếu tố phụ. Uư tiên là Thiên Thời , rồi đến Nhân Ḥa , c̣n địa lợi là thứ yếu chỉ cần an thân. Được 3 yếu tố th́ quá tốt. Thông thường chỉ cần được 1 thiên thời cũng đủ măn nguyện. Đại hạn nào có đủ 2 yếu tố Thiên Thời và địa lợi th́ sẽ khá, nếu có thêm Nhâm Ḥa th́ đại hạn rất rực rỡ. Trường hợp nếu thiên thời không có th́ phải nhờ đến Nhân Ḥa là ḷng người.
Thiên Lương cho rằng cũng có người gặp đại vận Thái Tuế, nghĩa là Mệnh không có ở Tam hợp Thái Tuế, khi đo thắng lợi chỉ là một giai đoạn rồi sụp đổ hoặc bị thị phi dèm pha để rồi ô danh sự nghiệp. Cũng có người gặp 2, 3 đại vận liên tiếp nhưng phải là Âm Nam Dương Nữ gặp Thiên Không trước rồi gặp Thái Tuế, nghĩa là muốn thành công phải gặp gian nan trước cho nếm mùi chua mặn chát của cuộc thế, hiểu cái thất bại để đem đến thành công
Cần chú ư theo cụ Thiên Lương :
Nếu Đại vận bị khắc nhập hay sinh xuất th́ chỉ là miếng xương nuốt vào cũng khó mà nhả ra cũng vướng, thêm Quyền Lộc th́ càng thêm lung tung khổ về Quan Lộc
Người Thái Tuế, trường hợp gặp Bạch Hổ Đường Phù trong tam hợp , vào hạn Thái Tuế dễ trút hơi thở cuối cùng với uy danh được hậu thế ghi nhận
Hạn gặp Thái Tuế là phải đắc ư, nhưng nếu gặp thêm Không Kiếp th́ lên để mà xuống
Hạn gặp Thiên Không là phá sản, nhưng Thiên Không gặp Khoa là xuống để mà lên
Dưới đây chỉ là vài điểm khái quát nêu ra và mong rằng căn cứ vào các điểm này các bạn có thể tự bổ xung và nhận định rơ ràng hơn
Khi đọc sách của cụ Thiên Lương tŕnh bày về yếu tố Thiên Thời, quả thật chúng ta sẽ cảm thấy bối rối v́ trong nhiều đoạn văn khác nhau tại các bài viết khác nhau có nhiều điểm mâu thuẫn xảy ra, nhất là khi cụ đề cập đến vấn đề sinh nhập và khắc xuất của yếu tố Thiên Thời. Bỏ qua các vấn đề đó, chúng ta nhận thấy rằng cụ Thiên Lương:
Khi xét hạn xấu tốt đă tập trung vào yếu tố chi của năm sinh, coi nhẹ các yếu tố khác như can.
Đưa các yếu tố khác như chính phụ tinh nhập hạn xuống hàng thứ yếu
Không phân biệt sự khác biệt giữa các đại hạn nằm trong thế tam hợp, v́ khi xét tương quan với tam hợp tuổi th́ đều đưa đến kết quả như nhau
Nhiều khi giải thích ư nghĩa sự sinh khắc của yếu tố Thiên Thời bằng cách sử dụng ṿng Thái Tuế do cụ phát minh (các bạn coi lại ṿng thái tuế th́ sẽ thấy điều này)
Thật ra nếu xem xét kỹ lưỡng các bài viết của cụ, chúng ta nhận thấy rằng quan điểm xét hạn của cụ vẫn dựa trên quan điểm cổ điển nhưng được triển khai dưới h́nh thức sinh khắc giữa các tam hợp khiến chúng ta dễ bị lâm vào chỗ mù mờ và khó xét đoán. Theo cách coi hạn cổ điển, khi coi hạn chúng ta thường coi chính cung và hai cung tam hợp, nghĩa là coi cả ba cung trong thế tam hợp, chưa kể xét đến xung chiếu, nhị hợp và giáp, và nhiều yếu tố khác…. yếu tố Thiên Thời của cụ Thiên Lương th́ chỉ đặt trọng tâm giai đoạn vào ba cung ở thế tam hợp mà thôi, và đặc biệt là không chú trọng đến sự khác biệt của các sao tọa thủ hay tam hợp chiếu hạn
Căn cứ về yếu tố Thiên Thời th́ chúng ta thấy cuộc đời của một con người sự thành công hay thất bại, hài ḷng hay không, thuận lợi hay khó khăn.. sè gần như có chu kỳ nhất định của nó, tuần hoàn theo một qui luật chi phối quan trọng chủ yếu như đă đề cập trên các bảng tóm tắt trên. Điểm này trên thực tế quan sát chưa hẳn là đúng và chúng ta sè thấy rất rơ ở các người mà tuổi trẻ bôn ba khổ sở, lận đận lao đao, bất đắc ư nhưng đến trung hậu vận lại thành công và hài ḷng, và có những người mà tuổi trẻ sung sướng hài ḷng nhưng đến trung hậu vận lại gian nan khổ cực mọi điều. (Để kiểm nghiệm vấn đề này các bạn hăy sử dụng bảng tính toán trên để áp dụng vào nhiều lá số xem chu kỳ đó có đúng hay không)
Nếu chỉ lấy các sao an chi năm sinh, sử dụng phương pháp theo cách coi vận hạn cổ điển và so sánh với quan điểm Thiên Thời của cụ, chúng ta sẽ thấy:
Đại hạn có Tuế Phù Hổ: đây là đại hạn đắc Thiên Thời cho mọi tuổi, theo cụ th́ sẽ đưa đến thành công, hài ḷng trừ khi gặp Không Kiếp. Qua kiểm nghiệm thực tế, chúng ta thấy rằng trong nhiều trường hợp, nhiều người đă vướng vào ṿng tù tội hoặc bị kiện tụng, điều tra, tranh chấp, thị phi… khi bước vào giai đoạn này. Tại sao có lúc đúng có lúc sai khi vào giai đoạn này. Chúng ta biết rằng ṿng Thái Tuế là ṿng cát phú, hung diệt, nếu đi với nhiều sao xấu th́ lại trở nên xấu xa, chủ thị phi kiện tụng h́nh luật. Đặc tính của tam hợp Tuế Phù Hổ là luôn luôn có Long Tŕ Hoa Cái, từ đó dễ có Tứ Linh - nếu ở cung Âm th́ sẽ luôn luôn có Tứ Linh. Tứ Linh tượng trưng cho sự may mắn hưng thịnh về mọi mặt, khi có Tứ Linh th́ sẽ có Giải Thần là sao giải hóa mạnh. Như vậy khi bước vào đại hạn có Tứ Linh và không gặp sao xấu th́ chúng ta sẽ gặp may mắn và từ đó dễ đưa đến hài ḷng. Các lá số rơi vào trường hợp này th́ sẽ thấy cách coi về ṿng Thiên Thời của cụ sẽ thường thuờng là đúng. Nhưng nếu rơi vào trường hợp không có Tứ Linh, và nhất là gặp các sao xấu th́ chưa hẳn là đúng v́ phải đối phó với chuyện thị phi căi vả tranh chấp kiện tụng… Cần chú ư nếu sử dụng phương pháp coi hạn cổ điển th́ khi gặp Tuế Phù Hổ, chúng ta ít nhất c̣n xét thêm sao xung chiếu. Ví dụ hạn có Tuế Phù Hổ, Bạch Hổ thủ hạn khác với chiếu hạn. Có Bạch Hổ thủ hạn th́ mặc dù trong hạn đó có nhiều may mắn xảy ra nhưng cũng phải lo lắng tuy thông thường không nhiều (v́ có bộ Tang Hổ nhập hạn nhưng lại có Tứ Linh) và thông thường th́ trong giai đoạn đó phải làm việc hăng say tích cực chứ không thể thảnh thơi được… Coi với phương pháp cổ điển, nắm vững ư nghĩa của các sao thường có mặt trong ṿng Thái Tuế, chúng ta sẽ bổ khuyết được các sai xót khi giai đoạn vận hạn khi sử dụng yếu tố Thiên Thời. Đại hạn đắc Thiên Thời của cụ sẽ bị lung lay khi đụng độ với bộ Sát Phá Tham hăm địa lại có hung sát tinh hăm địa nhập hạn …
Đại hạn có Dương Tử Phúc: là đại hạn sinh nhập theo cụ Thiên Lương, trừ trường hợp tuổi Tỵ Dậu Sửu th́ lại bị khắc nhập. Đây là phần có nhiều mâu thuần trong cách giải của cụ Thiên Lương v́ có lúc cụ cho rằng sinh nhập là tốt, có lúc cụ lại cho là tai hại v́ có Thiên Không. Thực chất trong đại hạn này luôn luôn có mặt Thiên Không Kiếp Sát đi với Đào, Hồng hoặc Hỉ. Khi sử dụng phương pháp của cụ Thiên Lương , chúng ta sẽ coi các sao trong tam hợp như là một. Theo phương pháp coi cổ điển, gặp hạn Thiên Không Kiếp Sát th́ ít nhất ta cũng cần chú ư tùy theo Thiên Không đứng ở vị trí nào của hạn, thủ hay chiếu, và tùy theo vị trí của Hồng Loan hoặc Đào Hoa trong tương quan với hành bản Mệnh và nhiều yếu tố khác mà ta giải đoán có khác nhau. Chính v́ sử dụng tam hợp tuổi nên cứ bị trục trặc khi gặp tuổi Tỵ Dậu Sửu (bị đưa xuống trường hợp khắc nhập khi đáo hạn Dương Tử Phúc). Trường hợp bị khắc nhập này theo quan niệm của cụ, nếu ta dùng phương pháp cổ điển mà phân tích th́ sẽ thấy tuy ba tuổi Tỵ Dậu Sửu bị khắc nhập mà lư giải về đại hạn của các tuổi có khác nhau, và ngay cả cùng một tuổi mà lư giải cũng khác nhau nếu cung nhập hạn khác nhau. Dưới đây là minh họa cho trường hợp tuổi Tỵ Dậu Sửu khi bị khắc nhập nhưng lư giải sẽ khác nhau.
Tuổi Dậu: Tử Phù, Nguyệt Đức, Kiếp Sát (Dần) – Phúc Đức, Thiên Đức, Hồng Đào (Ngọ) – Thiếu Dương, Thiên Không (Tuất)
Tuổi Tỵ: Phúc Đức, Thiên Đức, Kiếp Sát (Dần) – Thiếu Dương, Không Đào (Ngọ) – Tử Phù, Nguyệt Đức, Hồng Loan (Tuất)
Tuổi Sửu: Thiếu Dương, Thiên Không, Hồng Loan, Cô Thần, Kiếp Sát (Dần) – Tử Phù, Nguyệt Đức, Đào Hoa (Ngọ) – Phúc Đức, Thiên Đức, Quả Tú (Tuất)
Đại hạn có Tang Tuế Phá: là đại hạn bị khắc nhập hay khắc xuất. Trong đại hạn này với sự xuất hiện thường trực của Mă Hư , và không có các sao may mắn an theo chi của năm, quả thật đại hạn này con người dễ gặp trục trặc, buồn phiền, đặc biệt cho vị trí Tang Môn mà lại gặp thêm Thiên Khốc (đủ bộ Tang Hổ Khốc Hư), do đó cụ mới cho rằng bị hoàn cảnh chế ngự, có bị chế ngự th́ mới đem đến bất măn, không hài ḷng… Tuy vậy theo quan điểm coi hạn cổ điển th́ chưa hẳn là rơi vào đại hạn này th́ không có thời cơ, ví dụ như là hạn được hưởng bộ Mă Lộc Tồn mà Mà lại đồng hành với bản Mệnh tại hạn không gặp hung sát tinh… Theo cách giải của cụ th́ khắc nhập xấu hơn khắc xuất. Thử lấy hai tuổi Dần hạn ở cung Thân (bị khắc nhập) và tuổi Thân hạn ở cung Dần (bị khắc xuất), cả hai đều có các sao an theo chi giống nhau nhưng kết quả giải đoán theo yếu tố Thiên Thời có khác nhau. Điều này trên thực tế hạn rơi vào cung Thân chưa chắc xấu hơn hạn rơi vào cung Dần
Đại hạn có Âm Long Trực: đây la đại hạn bị sinh xuất, trừ trường hợp tuổi Dần Ngọ Tuất bị khắc xuất. Ta biết rằng ngoại trừ trường hợp Long Đức luôn luôn bị Thiên Không chiếu, bộ Âm Long Trực dễ gặp các sao của bộ Đào Hồng Hỉ, không gặp Tang Hổ Khốc Hư, Thiên Mă và tùy theo vị trí có thể gặp Cô Quả Kiếp Sát hay không...mà ta đưa ra các kết luận khác nhau. Theo cách giải cổ điển th́ chưa chắc đại hạn này sẽ xấu, và thực tế có nhiều người phát trong đại hạn này. Hơn nữa, thử so sánh trường hợp sinh xuất và khắc xuất. Tuổi Ngọ với vị trí ở cung Dậu đắc bộ Đào Hồng Hỉ không gặp Cô Quả Kiếp Sát th́ trường hợp khắc xuất này chưa chắc thua các trường hợp sinh xuất khác của bộ Âm Long Trực được và trường hợp này cũng chưa chắc thua trường hợp sinh nhập của bộ Dương Tử Phúc. Điều này đưa đến ư nghĩa khác biệt của sinh xuất , khắc xuất, sinh nhập mà cụ đề ra chưa hẳn hợp lư
Theo thiển ư cụ Thiên Lương lấy yếu tố hài ḷng thuận lợi… hay không trên cơ sở ư nghĩa ṿng Thái Tuế mà cụ đă phát minh ra. Ví dụ một khi đă rơi vào thế bất măn (khắc nhập, khắc xuất) th́ chứng tỏ là đă gặp môi trường không thuận lợi nên mới bất măn. Một khi đă bất măn th́ cho dù hạn có gặp nhiều sao tốt hội họp th́ cũng vẫn là bất măn, từ đó cụ Thiên Lương xem các chính phụ tinh nhập hạn là thứ yếu khi xem hạn.. Để ư lời giải thích ư nghĩa của khắc nhập, khắc xuất, sinh xuất, sinh nhập …của cụ dính liền với quan niệm về ṿng Thái Tuế tại bản Mệnh của cụ. Phải chăng cụ phát minh ra ṿng Thái Tuế trước, rồi quan sát các sao của ṿng Thái Tuế khi nhập hạn mà cụ đưa ra cách tính toán yếu tố Thiên Thời của cụ và sử dụng ư nghĩa ṿng Thái Tuế để luận giải cho các trường hợp sinh khắc trong yếu tố Thiên Thời
Để kiểm nghiệm nguyên lư của cụ đúng hay sai th́ chúng ta cần kiểm tra so sánh các đại hạn của từng lá số, đặc biệt coi lá số người lớn tuổi (v́ với lá số người lớn tuổi chúng ta c̣n có thể đưa ra sự khác biệt giữa hai đại hạn cùng ở trên thế tam hợp chiếu). Ví dụ trong một lá số đặc biệt, ta có thể so sánh đại hạn có Tuế Phù Hổ gặp Sát tinh với đại hạn có Tang Tuế Phá hay Âm Long Trực gặp chính tinh hoặc trung tinh sáng sủa không có hung sát tinh xâm nhập th́ sẽ thấy rơ yếu tố Thiên Thời đúng hay sai (v́ cụ đánh giá yếu tố Thiên Thời mạnh hơn nhân ḥa)…
Tóm lại yếu tố Thiên Thời của cụ Thiên Lương thực chất là sự coi trọng sự nhập hạn của các sao trong ṿng Thái Tuế khi xét đoán đại hạn. Chính v́ coi trọng yếu tố này, sự xét đoán đại hạn sẽ không c̣n được chính xác trong nhiều trường hợp, chưa kể phát minh về ư nghĩa của ṿng Thái Tuế của cụ chưa hẳn là đúng hoàn toàn
TMT
[
Next Thread |
Previous Thread |
Next Message |
Previous Message
]
| |