| Subject: Nguon goc am lich vaf Tu Vi |
Author:
NT
|
[
Next Thread |
Previous Thread |
Next Message |
Previous Message
]
Date Posted: 08:59:59 05/03/03 Sat
Nguyễn Cường
Hầu như dân ở các nước Việt, Hàn, Nhật, và Trung quốc nơi khai sinh ra khoa lịch số, đều biết nhiều hay nghe nói về âm lịch, dù có đang dùng Dương lịch như một tiêu chuẩn chung cho cả thế giới hiện nay. Thích hay không th́ ít nhất đa số cũng đều chấp nhận chuyện ăn mừng tết Nguyên đán theo truyền thống dựa vào Âm lịch. Bởi vậy nên phần đông các cuốn lịch in ra trong các nước nói trên đều có phần ghi chú thêm ngày "Ta" đi kèm. Riêng đối với người Việt th́ h́nh như nhà nào cũng thích có cuốn lịch thuộc loại tam tông miếu để treo tường, ngay cả trong những gia đ́nh sống ở hải ngọai. Mục đích chính không phải v́ thích coi theo ngày ta, mà nguyên nhân có lẽ là do từ tôn giáo và tín ngưỡng, biết ngày nào rằm hay mùng một để ăn chay (theo Phật gíao). Chỉ có một thiểu số ít hơn là dùng âm lịch thường xuyên để nghiên cứu hay áp dụng vào các bộ môn khoa học huyền bí, như lấy số tử vi hay coi ngày lành tháng tot cho chuyện làm đám cưới hỏi, khai trương công việc làm ăn v.v.
Hiện nay nghề làm lịch số của Trung quốc không c̣n giữ được bí mật theo kiểu cha truyền con nối như xưa, v́ nhờ vào phương tiện in ấn dồi dào từ sách vở ghi chép c̣n sót lại để nghiên cứu. Hơn nữa, Âm lịch cũng không c̣n thực dụng, v́ hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới đang chính thức dùng Dương lịch. Dù vậy, hậu quả của việc bảo vệ bí mật trong mấy ngàn năm trước đây, cũng đă vô t́nh đánh mất đi cơ hội dành cho những thế hệ về sau này của Trung quốc, nghiên cứu và t́m ra vận hành của Thái dương hệ, trước Âu châu ít nhất là vài trăm năm!
Nếu t́nh cờ mỗi năm một lần, chúng ta thấy xuất hiện một từ quen thuộc gọi theo tên âm lịch của năm đó, như năm nay 2002 là Nhâm-Ngọ, hay năm tới 2003 là Quư-Mùi, th́ dám chắc ai cũng đă ít nhất một lần thắc mắc, bằng cách nào và dựa vào đâu, các nhà lịch số Trung hoa phát minh ra những từ ngữ trên? Nói rơ hơn là mười (10) Thiên Can và mười hai (12) Địa Chi. Xin nhắc lại ở đây, 10 Can gồm: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quư.
Bài viết này sẽ dựa trên một vài dữ kiện kiểm chứng được của khoa học, để truy t́m lại phương pháp làm lịch mà các Chiêm tinh gia Trung hoa thời xưa có thể đă xử dụng. Bằng với tinh thần tôn trọng sự thật và học hỏi, người viết xin minh xác là những ǵ được tŕnh bày sau đây có thể chưa được chính xác đúng hoàn ṭan như đă xảy ra. Nhưng hy vọng sẽ là những ư tưởng khởi đầu, hay nếu có thể được, coi như là một đề nghị nghiên cứu thêm cho những vị có nhiều năng khiếu tự nhiên giỏi về các bộ môn Tử vi Lư số, để cùng làm sáng tỏ những ǵ đă bị hiểu nhầm là khoa học huyền bí.
Nội dung chính của bài viết này sẽ tŕnh bày và giải thích tại sao, chỉ bằng mắt thường quan sát với phương tiện ghi chép c̣n thô sơ, các chiêm tinh gia Trung hoa đă tính được ra Thiên can, Địa chi và Lục Tuần Hoa Gíap, hay khái niệm về vận hành 60 năm trong âm lịch. Phần cuối của bài viết sẽ giải thích một vài điều thắc mắc về những bí ẩn của khoa Tử vi Đẩu số.
Nguồn gốc Lịch số
Âm lịch (lunar calendar) hay việc soạn thảo lịch số dựa vào vận hành của mặt trăng không phải bắt đầu từ Trung hoa như nhiều người lầm tưởng. Theo dữ kiện có được từ các nhà khảo cổ với bằng chứng rơ rệt, th́ nền văn minh Sumerian, phát triển bên cạnh con sông Tigri s cách đây hơn 6000 năm (khoảng từ năm 5000-4000 BC, để sau này thành trung tâm của xứ ngàn lẻ một đêm, hay ngày nay c̣n gọi là Baghdad, thủ đô của Iraq) đă biết làm lịch dựa vào vận hành của mặt trăng. Đế quốc La mă ngay trong thời trước Julius Cesar ( 40 BC ) cũng dùng loại Âm lịch này. Chọn mặt trăng để làm lịch có thể bởi hai lư do: Dễ nh́n v́ ánh trăng ban đêm không nóng gay gắt và khó nh́n như mặt trời ban ngày. Thay đổi h́nh dạng thường xuyên từ khuyết tới tṛn dễ thấy hơn là mặt trời hầu như ít khi thay đổi. Tuy nhiên, c̣n một lư do khá quan trọng khác ít người nghĩ đến, là do yếu tố thiên nhiên. Xứ Ai cập (Egypt) nằm ngay trên đường Phân cực Hoàng đạo (Tropic of Cancer, khoảng 23°27 từ xích đạo) nên đa số nhiều người đă thấy được hiện tượng mặt trời chiếu thẳng trên đỉnh đầu. Nghĩa là trong khoảng từ 20 tháng 3 đến 20 tháng 9, nếu cắm một cái cọc thật thẳng đứng, sẽ thấy bóng của cây cọc nhập trùng ngay dưới gốc của nó vào lúc 12 giờ trưa, ít nhấtlà trong vài ngày (Chỉ những nước nằm giữa đường xích đạo và Bắc bán cầu trong khoảng Vĩ tuyến từ 0 - 23°27 mới thấy được hiện tượng trên. Ngược lại, trong vùng Nam Bán cầu th́ khoảng từ 20 tháng 9 đến 20 tháng 3). Nhờ quan sát hiện tượng đó, dân Ai cập cách đây khoảng hơn 4000 năm đă tính ra gần đúng số ngày trong năm (365 thay v́ 355 như Âm lịch), và cũng chính là lư do họ chọn làm lịch theo mặt trời, lưu truyền Dương lịch cho đến bây giờ!
Các thủ đô của Trung hoa như Trường An hay Bắc kinh, v́ nằm trong vùng ôn đới cách xa trên đường Phân cực (Tropic of Cancer) nên không thấy được hiện tượng nói trên, cũng như không có ấn tượng nhiều về mặt trời, và cũng là lư do dể hiểu tại sao họ đă dùng mặt trăng để làm lịch.
Theo đúng như trong sử Trung hoa ghi lại th́ khoa Lịch số đă có từ thời Hoàng Đế, cách đây hơn 4000 năm, do các chiêm tinh gia soạn ra (nghĩa nguyên thuỷ là nhà thiên văn hay chuyên gia coi sao trên trời, không phải bị biến nghĩa ra thành "thầy bói toán" như về sau này!) chiêm tinh gia biên soạn lịch số để định chuẩn thời gian cho việc hành chánh và cai trị của triều đ́nh Vua quan, nhưng đồng thời cũng giúp rất nhiều cho nghề nông trong việc tiên đóan thời tiết hay thu hoạch mùa màng. Chắc chắn trong giai đoạn đầu khi mới có cho đến khoảng sau thời Hán Cao tổ, âm lịch cũng không tránh khỏi nhiều sai lầm, nhất là rất đơn sơ và chưa có Thiên can hay Địa chi như sau này. Bằng chứng là trong thời kỳ phát triển của Chu Dịch (1150 - 500 BC) cũng chưa nghe nói đến. Phải đến thời "TamQuốc" của Khổng Minh (Gia cát Lượng) vào khoảng 200-300 AD th́ mới có văn tự rơ rệt nói về các Thiên Can, đồng thời xuất hiện các khoa lư số như Kỳ Môn Độn Giáp, Thái ất Thần toán, hay Lục Nhâm Đại Độn v.v. Hầu hết các sử gia Trung quốc đều công nhận là chỉ vào thời kỳ của Nhà Hán, sau mấy trăm năm chiến tranh liên miên từ thời Đông chu Liệt quốc, nền văn minh Trung hoa mới thật sự khởi sắc và đi lên trong Thiên niên kỷ đầu tiên (0 -1000 AD).
Theo chính sử ghi lại, những nghiên cứu và phát minh của Trung hoa thật sự đă bắt đầu từ thời Tần thủy Hoàng, khi vị Hoàng đế tài giỏi nhưng tàn bạo này, có thể động viên hay chiêu dụ được nhiều đạo sĩ (coi như là khoa học gia theo tiêu chuẩn thời đó), trong việc thám hiểm, đi t́m kiếm các kỳ hoa dược thảo để luyện thuốc trường sinh bất tử cho ông. Dưới nhận xét b́nh thường th́ cho rằng đó là việc làm xa xỉ, hoang tưởng và mê muội. Nhưng trong lănh vực nghiên cứu khoa học ngày nay, Tần Thủy Hoàng rất xứng đáng được coi như đă có công sáng lập một cơ cấu kiểu Hàn lâm Viện khoa học đầu tiên cho nhân lọai! Những chi phí trong việc chiêu đăi hay thưởng công cho các đạo sĩ thời đó, dưới cái nh́n thiếu hiểu biết cholà phung phí, nhưng so với tỷ lệ ngân sách dành riêng cho khảo cứu khoa học ngày nay th́ chẳng có nghĩa lư ǵ cả, dù là của một nước đang phát triển! Chính nhờ làm việc và sống chung tập thể với nhau đó, đă vô t́nh tạo ra môi trường tốt đẹp cho những sáng kiến mới, thi đua học hỏi, trao đổi kiến thức giữa các đạo sĩ với nhà vua, và có thể đă là cơ sở đóng góp cho nhiều phát minh quan trọng về khoa học và kỹ thuật sau này của Trung quốc. Hoá chất Lưu huỳnh dùng để làm thuốc súng, than đá, thủy ngân, ch́, nam châm có từ tính, cách luyện thép, bàn tính (abacus), v.v. có thể đă được bắt đầu nghiên cứu hay t́m ra trong thời kỳ này. Thí dụ về những huyền thoại phù phép mà Khổng Minh xử dụng, là do những phản ứng đặc biệt từ các hoá chất độc hại như lưu huỳnh, thuỷ ngân hay các loài dược thảo trộn chung với nhau khi bị đốt cháy. Kết qủa là làm cho đối phương bị gây mê, mất trí hay mạng vong trong những vùng gọi là bát qúai trận đồ. Nhưng một trong những thành quả tốt đẹp hơn hết chính là bộ môn xem thiên văn khí tượng bắt đầu xuất hiện được nhiều người biết đến. Nhờ vậy mà khoa lịch số đă được hiệu chỉnh, thay đổi đúng hơn cho tới bây giờ!
Phương pháp soạn Âm lịch
Có thể chia ra làm hai giai đọan phát triển chính choviệc soạnthảo âmlịch.
Giaiđoạn I: Kéo dài khoảng gần 2000 năm từ thời Hoàng đế cho đến thời Khổng tử. Trong giai đoạn này chỉ có ngày, tháng và năm. Chưa có chia ra giờ cũng như chưa có thiên can và địa chi. Công việc soạn lịch vào thời sơ khai này rất là dễ hiểu, không có ǵ phức tạp như nhiều người thường lầm tưởng. Những chiêm tinh gia thời đó chỉ dựa vào khoảng cách giữa hai tuần trăng tṛn để tính số ngày cho một tháng. Khoảng cách của một năm th́ được định bằng thời điểm vào lúc Trăng tṛn nhất, khoảng ngày rằm tháng 8 (sau này thành ra tết Trung thu), và một phần dựa vào thời tiết thay đổi của 4 mùa.
Khó khăn duy nhất lúc ban đầu là cứ cách khoảng chừng hai năm th́ tháng có trăng tṛn nhất bị kéo dài thêm một tháng. Đó là những tháng nhuận, và cách giải quyết thực tế đơn giản lúc bấy giờ là thêm nguyên một tháng vào những năm nhuận. C̣n làm sao họ biết được năm nào nhuận là do phỏng chừng và dựa vào kinh nghiệm riêng của những đời trước theo kiểu cha truyền con nối. Chính cách làm theo lối thuận tiện như trên, nên âm lịch thường bị thành kiến cho là thiếu chính xác! Có thể trong thời kỳ này, tháng nhuận chỉ được thêm vào trong tháng trước tháng có trăng tṛn nhất là tết Trung thu(?) Chỉ sau này khi bắt đầu ăn mừng ngày tết Nguyên đán và để không bị sai ngày quá xa, nên những nhà soạn lịch phải chia ra cho đều, thêm tháng nhuận vào các tháng khác.
Ngoài ra có vài chi tiết cần được để ư là hệ thống Âm lịch dựa vào thiên can và địa chi chỉ có phân biệt tối đa là 60 năm, nên nếu muốn viết lịch sử, họ thường dùng năm cai trị của Vua hay triều đại làm chuẩn. Thí dụ như trong sách thường viết là năm thứ mấy đời Vua nào đó gặp thiên tai băo lụt v.v. Lâu dần trở thành thói quen dùng luôn cho đến khi bị ảnh hưởng của nền văn minh Tây phương thay đổi.
Về giờ giấc, lịch số ở thời kỳ đầu cũng chưa chia ra 12 giờ như sau này. Để định giờ, họ dùng cách nói phỏng chừng theo vị trí của mặt trời, mà măi cho đến bây giờ, nông dân ít học ở các vùng quê vẫn c̣n dùng, như khi nói mặt trời vừa lên quá ngọncây (khoảng 8 đến 9 giờ sáng mùa hạ), hay mặt trời đứng bóng giữa trưa khoảng 12 giờ v.v.
Những ǵ vừa tŕnh bày có thể kiểm chứng bằng bộ sách Chu dịch đă được soạn ra khoảng từ thời nhà Chu (1150 BC) cho đến thời Khổng tử (550 BC). Cụ thể là việc lập quẻ Dịch. Trong bộ Chu Dịch chính bản chỉ ghi cách lập quẻ duy nhất là dùng cỏ Thi, c̣n gọi là phép bói cỏ Thi, mà không dùng đến giờ nào như Khổng Minh dùng để bấm độn sau này. Các lời bàn của 64 quẻ trong bộ Chu Dịch nguyên thuỷ hoàn toàn không có nói rơ về giờ giấc.
Giai Đoạn II: Từ thời Khổng tử cho tới nhà Đường khoảng chừng 1000 năm. Thời kỳ này văn minh Trung hoa bắt đầu khởi sắc đi lên. Các Đạo sĩ hay Chiêm tinh gia làm việc có phương pháp và khoa học hơn. Nhờ vậy, họ đă t́m ra hay khám phá được chu kỳ vận chuyển của các hành tinh trong Thái Dương hệ, và từ đó âm lịch mới được thay đổi để thêm vào Thiên can, Địa chi, Lục tuần Hoa giáp (hay chu kỳ 60 năm). Trước khi đi sâu vào chi tiết, và để quư đọc giả dễ theo dơi vấn đề hơn, người viết xin nhắc lại một vài dữ kiện căn bản như sau:
Trong những đêm tốt trời không mây, nếu dùng mắt thường chúng ta có thể đếm được cả vài trăm ngôi sao là chuyện thường. Tuy nhiên, tất cả đều thấy gần như cố định không thay đổi theo năm tháng, v́ không phụ thuộc vào một hệ thống vệ tinh như Thái dương hệ, hoặc giả có chu kỳ di chuyển quá lớn đến cả ngàn vạn năm. C̣n lại, trừ trường hợp đặc biệt như sao chổi (Comet) và sao băng (Asteroid), chúng ta chỉ thấy được những hành tinh thuộc Thái dương hệ di chuyển mà thôi. Trong tám (8) hành tinh chính, trừ mặt trời và mặt trăng, mắt thường của chúng ta chỉ thấy được có năm(5) hành tinh. Đó là Thủy tinh (Mercury), Kim tinh (Venus), Hỏa tinh (Mars), Mộc tinh (Jupiter), và chót là Thổ tinh (Saturn). Ba (3) hành tinh không thấy được bằng mắt thường là Diêm vương tinh (Uranus), Hải vương tinh (Neptune) và Thiên vương tinh(Pluto). Không biết có phải là trùng hợp ngẫu nhiên của tạo hóa, hay sắp đặt khéo léo của con người, trong 8 quái (Bát quái hay 8 hành?) của Dịch lư, các "Khoa học gia" thời đó chỉ thấy được có 5 quái: Địa, Sơn, Thủy, Lôi, và Hỏa, nên phát minh ra Ngũ hành (Người viết đă tŕnh bày trong bài "Những khám phá mới về Dịch lư và Ngũ hành" cách đây hơn hai năm.)
Để t́m hiểu về 5 hành tinh thấy được chuyển động như thế nào, các Chiêm tinh gia thời đó đă dùng một phương pháp đơn giản nhưng rất khoa học, là ghi chép lại vị trí của các hành tinh sau một thời khoảng nhất định. Thời điểm tốt nhất để xem thiên văn là mỗi tháng một lần vào cuối hay đầu tháng, lúc trăng hoàn toàn bị che mất (đêm 29, 30 hay 1). Muốn định rơ vị trí của các sao, có lẽ họ cũng biết dùng theo phương pháp chấm tọa độ, nhưng kém chính xác rất nhiều. Dùng sao Bắc đẩu làm chuẩn và theo đồ h́nh Bát quái, họ có thể định phương vị (hay khẩu độ) của một sao, và kế đến là cũng theo lối ước chừng độ cao của mặt trời để định khoảng cách từ đường chân trời. Thí dụ như để định vị ngôi sao ở 220 độ từ hướng Bắc (theo chiều kim đồng hồ) và 25 độ cách chân trời nằm ngang, họ có thể nói là nằm ở giữa cung Khôn (hướng Tây-Nam) cách chân trời khoảng một gang tay chẳng hạn. Về sau để được chính xác hơn, cóthể các chiêm tinh gia đă dùng đến các tên của quẻ dịch để phân chia thành 64 cung trên ṿng tṛn. Đó chính là lư do tại sao các nhà nghiên cứu về sau có thể hiểu lầm v́ bị nạn "tam sao thất bổn", nên tưởng là môn lịch số có nguồn gốc từ Dịch lư mà ra.
Dù bằng cách nào th́ cũng nhờ khái niệm tuần hoàn và chu kỳ âm dương của Dịch lư, chiêm tinh gia thời đó có thể tin chắc là các v́ sao đều chuyển động theo một chu kỳ nhất định nào đó. Nếu không th́ có lẽ họ không bỏ th́ giờ quá lâu cho cả một đời người để t́mra gần đúng chu kỳ của 5 hành tinh trong Thái dương hệ, trước Âu châu cả hơn ngàn năm!
Kết quả công tŕnh nghiên cứu và ghi chép vị trí sao của các Chiêm tinh gia Trung hoa nói trên cho thấy là cứ mỗi 60 năm th́ cả 5 hành tinh đều quay trở về lại gần vị trí cũ ! Đặc biệt hơn hết, là vào khoảng cuối năm Quư Hợi và đầu năm Giáp Tư th́ cả 5 hành tinh đều hội tụ lại, và nằm sát với nhau chung một hướng. Xin nhắc lại đây để tránh hiểu nhầm, nhờ t́nh cờ ngẫu nhiên quan sát thấy hiện tượng 5 sao tụ hội về một chỗ trước khi phân tán ra, nên có thể các nhà lịch số cho rằng đó là khởi điểm đầu tiên cho chu kỳ 60 năm, và họ đặt tên cho năm có hiện tượng đó là Giáp Tư, đứng đầu trong bảng lục tuần hoa giáp.
Sau đây là bảng tóm lược số ṿng chu kỳ quay quanh mặt trời của 5 hành tinh, dựa theo thời gian một (1) năm của trái đất làm chuẩn:
[
Next Thread |
Previous Thread |
Next Message |
Previous Message
]
| |