VoyForums
[ Show ]
Support VoyForums
[ Shrink ]
VoyForums Announcement: Programming and providing support for this service has been a labor of love since 1997. We are one of the few services online who values our users' privacy, and have never sold your information. We have even fought hard to defend your privacy in legal cases; however, we've done it with almost no financial support -- paying out of pocket to continue providing the service. Due to the issues imposed on us by advertisers, we also stopped hosting most ads on the forums many years ago. We hope you appreciate our efforts.

Show your support by donating any amount. (Note: We are still technically a for-profit company, so your contribution is not tax-deductible.) PayPal Acct: Feedback:

Donate to VoyForums (PayPal):

Login ] [ Contact Forum Admin ] [ Main index ] [ Post a new message ] [ Search | Check update time | Archives: 12[3]45678 ]
Subject: Các nhà khoa học đă bảo vệ cho “bệnh” đồng tính ái như thế nào?


Author:
Angel
[ Next Thread | Previous Thread | Next Message | Previous Message ]
Date Posted: Sun, Jun 08 2003, 0:15:23

Vừa rồi ngẫu nhiên tôi có dịp “phỏng vấn” ít gay “ṇi”. Lần đầu tiên tiếp xúc face to face với “thứ dữ”, tôi tranh thủ t́m hiểu trực tiếp nhiều điều, từ các câu hỏi ngây ngô về sexual behaviour cho đến những tâm tư nguyện vọng. Những ǵ được nghe, có điều làm tôi thật sự kinh hăi về t́nh cảm gay và nguy cơ AIDS, nhưng cũng có điều khiến tôi thấy thiệt tḥi cho gay Việt. Chuyện bối cảnh xă hội th́ không nói rồi, đương nhiên mà, nhưng đáng nói là dường như một bộ phận (không nhỏ?) gay Việt c̣n quá mù mờ về bản thân. Một mặt, đó là do không tiếp cận được đến những thông tin chính xác về khoa học và xă hội của vấn đề luyến ái đồng giới. Mặt khác, do chính định kiến đă áp đặt, khiến họ dù thừa nhận cái bẩm sinh không thể tránh khỏi trong khuynh hướng t́nh cảm, t́nh dục của ḿnh, nhưng vẫn tự ti, mặc cảm. Trong số những điều đó có việc họ vẫn xem đồng tính ái là một căn bệnh.

Trên thực tế, Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (American Psychiatric Association, APA) từ năm 1973 đă loại đồng tính ái khỏi Danh sách các Triệu chứng và Bệnh rối loạn Tâm thần (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders). Tổ chức Y tế Thế giới (Word Health Organization, WHO) cũng đă làm điều tương tự vào năm 1992, trong phiên bản thứ 10 của Danh sách các Chứng bệnh trên Thế giới (International Classification of Diseases 10th edition).

Tháng 12 năm 1992, APA cũng phát đi lời kêu gọi sau đây: “Xét thấy luyến ái đồng giới tự thân nó không có hàm ư nào cho rằng có hay không sự thiệt hại, tính ổn định, sự tin cậy trong năng lực xă hội chung hay khả năng tác nghiệp [ở người đồng tính]; Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ kêu gọi các tổ chức y tế trên thế giới và cá nhân các nhà tâm học học ở các quốc gia hăy thúc đẩy, trên đất nước ḿnh, việc băi bỏ những trừng phạt pháp lư đối với t́nh cảm và t́nh dục đồng giới có sự ưng thuận tư riêng giữa những người trưởng thành. Ngoài ra, APA cũng kêu gọi các tổ chức và cá nhân này hăy thực hiện mọi việc có thể để giảm đi những bôi xấu có liên quan đến luyến ái đồng giới, ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào”.

Trước đó, năm 1980, APA đưa một chứng bệnh mới vào danh sách bệnh học. Đó là chứng đồng tính lệch kỷ, được định nghĩa là có ở “những người mà quan tâm tính dục của họ nguyên thủy hướng về người cùng giới, nhưng lại hoặc bất an, hoặc xung đột, hoặc muốn thay đổi khuynh hướng tính dục đó”. Vậy là vào lúc đó, dưới cái nh́n tâm thần học, người đồng tính ái th́ b́nh thường, chỉ những người đồng tính đang trong giai đoạn bất ổn với khuynh hướng t́nh cảm giới tính của ḿnh hay trốn tránh nó, mới là có bệnh. Nhưng sau đó cách nh́n này cũng thay đổi v́ các nhà tâm thần học cho rằng hầu như người đồng tính nào cũng trải qua giai đoạn tự xung đột đó.

Thời gian gần đây trong nước cũng đă có vài ư kiến cảm thông rất mạnh mẽ với người đồng tính ái, như ca sĩ Phương Thanh hay ĐD Lê Hoàng chẳng hạn. Đây là điều hết sức đáng trân trọng, có thể xem như tín hiệu công khai đầu tiên của quá tŕnh nh́n nhận xă hội. Nhưng những ư kiến này, và dư luận xă hội nói chung, vẫn vô t́nh hay cố ư xem đây là bệnh. Có thể hiểu các ư kiến này là do thiếu thông tin (cũng như các homosexuals thôi), mà cũng có thể hiểu nó được chọn như một phương cách truyền thống khi đưa vấn đề ra trước dư luận, nhằm kêu gọi một sự cảm thông, mà nói thẳng ra giống như một sự thương hại! Đây có lẽ là phương cách dễ dàng nhất, dễ chấp nhận nhất, nhưng cũng thiết nghĩ rằng trong bối cảnh xă hội thông tin ngày nay, cách thức đó có vẻ như quay ngược về lịch sử, v́ việc y học xếp luyến ái đồng giới thành một căn bệnh để nhận được sự chấp nhận xă hội là điều “xưa như trái đất” rồi (Xem bài Trao đổi thêm của tôi tại cụm msg “Người đồng tính trên đất Mỹ”). Và trong bối cảnh xă hội đó, không thể có cách nào khác hiệu quả nhất mà cũng là rốt ráo nhất, là tiếp cận vấn đề từ những kết quả khoa học chính thức, cũng như các khía cạnh văn hóa, xă hội khác.

Vậy kết quả khoa học chính thức được nói đến ở đây là ǵ? Đó là kết luận của giới khoa học rằng đồng tính ái cũng chỉ là một biểu hiện của sự đa dạng sinh học về mặt tính dục của con người mà thôi, mà một trong những cơ sở của nó là giữa người dị tính ái và đồng tính ái có sự khác biệt trong việc chi phối hành vi phái tính từ năo bộ.

Dưới đây tôi chọn giới thiệu một văn bản của APA phát hành năm 2000, bác bỏ mạnh mẽ việc cố t́nh lờ đi các cứ liệu khoa học về đồng tính ái để rồi t́m cách “chữa trị” cho nó. Đọc văn kiện này tôi đă tự hỏi không biết có ai đó cực đoan đến nỗi kết luận rằng toàn bộ các nhà tâm thần học của APA đều là người đồng tính hết hay không, khi mà họ bảo vệ hết sức mạnh mẽ cho người đồng tính ái, không chỉ trên phạm vi bệnh học, mà c̣n cả trên b́nh diện chính trị, xă hội, đạo đức? Đó chỉ là một suy nghĩ joke thôi, nhưng vấn đề cho thấy ở đây là lương tâm và lương tri của người làm khoa học nói riêng và của con người nói chung. Quyền tồn tại b́nh đẳng về mặt t́nh cảm giới tính và quyền công dân đầy đủ cho người đồng tính ái (tức các quyền hôn nhân, con nuôi…) nào có dính dáng tư ǵ đến quyền lợi của các nhà tâm thần học, nhưng họ lại kiên quyết bảo vệ, v́ đó chính là thiên chức khoa học của họ, là thiên chức của những nhân cách mang tính người trước đồng loại của ḿnh, là tính hiệp nghĩa, “thấy chuyện bất b́nh, rút đao tương trợ”, để bảo vệ cho quyền con người của những con người cũng là con người như ḿnh. Người Việt Nam ta liệu có được tính hiệp nghĩa như vậy không? Đó là câu hỏi mà tôi mong rằng sẽ được mọi người nghĩ đến.


BẢN TUYÊN BỐ LẬP TRƯỜNG
Tuyên bố lập trường của COPP về những liệu pháp tập trung thay đổi khuynh hướng tính dục (Những liệu pháp bù đắp hay hoán cải )

Hội đồng Quản trị chuẩn thuận Tháng Ba 2000
Hội đồng toàn thể chuẩn thuận Tháng Năm 2000

Lời dẫn:

Tháng 12 năm 1998, Hội đồng Quản trị đă phát hành Tuyên bố Lập trường khẳng định rằng Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (APA) chống lại bất kỳ giải pháp tâm thần nào như liệu pháp “bù đắp”, hay c̣n gọi là liệu pháp hoán cải, vốn dựa trên khẳng định luyến ái đồng giới tự thân nó là một rối loạn tâm thần, hay trên cơ sở một khẳng định tiên thiên cho rằng “người bệnh” cần thay đổi khuynh hướng tính dục đồng giới của anh hay chị ta. Trên tinh thần đó, APA liên kết với các tổ chức chuyên môn có lập trường hoặc chống lại hoặc phê phán các liệu pháp “bù đắp”, như Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ, Hiệp hội Y học Hoa Kỳ, Hiệp hội Tâm lư học Hoa Kỳ, Hiệp hội Tư vấn Hoa Kỳ, và Hiệp hội Nhân viên Xă hội Quốc gia.

Tuyên bố chính thức sau đây được Hội đồng Quản trị phát hành, mở rộng và tŕnh bày cụ thể hơn tuyên bố trên, nhằm phát biểu thêm về những vấn đề chuyên môn và chính sách công có liên quan đối với những liệu pháp được thiết kế nhằm thay đổi khuynh hướng t́nh cảm giới tính và bản sắc tính dục của người bệnh. Những điều tŕnh bày ở đây thay thế cho tuyên bố năm 1998.

Tuyên bố lập trường:

Trong quá khứ, việc định nghĩa tính dục đồng giới như một căn bệnh đă làm vững chắc cho sự sỉ nhục đạo đức xă hội đối với các quan hệ cùng giới. Trong xu thế của xă hội ngày nay, khẳng định rằng đồng tính ái là một rối loạn tâm thần xuất phát từ những cố gắng nhằm làm giảm đi sự chấp nhận xă hội đang ngày một tăng đối với luyến ái đồng tính như một sự đa dạng b́nh thường của dục tính con người. Do vậy, thay đổi khuynh hướng tính dục trở thành vấn đề mang tính chính trị cao. Sự ḥa nhập của những người đồng tính nam và nữ trong ḍng chủ đạo của xă hội Hoa Kỳ bị chống đối từ phía những người lo sợ rằng sự ḥa nhập như vậy là sai trái về đạo lư và đe doạ đến cấu trúc xă hội. Những tranh luận chính trị và đạo đức quanh vấn đề này đă làm mù mờ các cứ liệu khoa học, bằng việc viện đến những vấn đề về động cơ và tính cách cá nhân trên cả hai mặt của vấn đề. Văn bản này sẽ cố gắng soi rọi vấn đề nóng bỏng này.

Sự vững chắc, tính hiệu quả và đạo đức của những nỗ lực lâm sàng nhằm thay đổi khuynh hướng t́nh cảm giới tính của một cá nhân đă không được thừa nhận. Cho đến nay, không một kết quả nghiên cứu nghiêm túc nào về mặt khoa học để xác định hoặc là hiệu quả thực tế hoặc là nguy hại của những trị liệu “bù đắp”. Có một số cứ liệu khoa học về những tiêu chuẩn chọn lọc, những rũi ro nghịch biện với những lợi ích của giải pháp này và các hệ quả lâu dài của những liệu pháp “bù đắp”. Các tài liệu như vậy bao gồm những báo cáo răi rác về những cá nhân nào đó cho rằng đă thay đổi, có những người th́ khẳng định những nỗ lực thay đổi đă gây hại cho họ, số khác th́ xác định đă thay đổi để rồi sau đó chối từ những khẳng định này.

Dù có ít cứ liệu khoa học về các “bệnh nhân” đă trải qua những trị liệu này, vẫn có thể đánh giá những lư thuyết nhằm hợp lư hóa các liệu pháp “bù đắp” và hoán cải. Trước tiên, chúng xung đột với lập trường khoa học của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ, nơi mà từ năm 1973 đă cho rằng đồng tính ái, tự bản thân nó, không là một rối loạn tâm thần. Lư thuyết của các trị liệu “bù đắp” định nghĩa luyến ái cùng phái hoặc như sự lôi cuốn tiến triển hay một biểu hiện xấu của tâm lư bệnh học, hoặc là cái ǵ đó kết hợp cả hai. Trong những năm gần đây, những người thực hiện liệu pháp “bù đắp” đă hợp nhất các lư thuyết phân tâm học cũ vốn xem đồng tính ái có tính bệnh học, với những niềm tin tôn giáo truyền thống vốn kết án tính dục đồng giới.

Các phê phán khoa học sớm nhất đối với các lư thuyết và niềm tin tôn giáo trước đây - những cái đem lại cơ sở lư luận cho các liệu pháp “bù đắp” hay hoán cải, ban đầu đă đến từ các nhà nghiên cứu t́nh dục học. Sau đó, phê phán cũng nổi lên từ các nguồn phân tâm học. Cũng đă gia tăng trong số các cơ quan tôn giáo khi họ lập luận chống lại truyền thống và những diễn dịch kinh thánh vốn lên án đồng tính ái và làm cơ sở cho cái kiểu trị liệu “bù đắp” có tính tôn giáo.

Các khuyến nghị:

1. APA tái xác nhận lập trường được đưa ra vào năm 1973, rằng đồng tính ái tự thân nó không là một rối loạn tâm thần được chuẩn đoán. Những cố gắng công khai gần đây nhằm tái bệnh học hóa tính dục đồng giới bằng cách khẳng định nó có thể được điều trị đă được hướng dẫn không bởi những nghiên cứu tâm thần học và khoa học nghiêm túc, mà đôi khi bởi các lực lượng tôn giáo và chính trị chống lại quyền công dân đầy đủ cho những người đồng tính nam và nữ. APA cho rằng ḿnh cần đáp lại một cách nhanh chóng và thích đáng, với tư cách là một tổ chức khoa học, bằng khẳng định rằng đồng tính ái không phải là một căn bệnh cần chữa trị và được chữa trị bởi các nhóm chính trị và tôn giáo.

2. Với tư cách nguyên tắc chung, một nhà trị liệu không nên xác định mục đích chữa trị hoặc bằng sự cưỡng ép, hoặc thông qua những tác động khéo léo. Các liệu pháp tâm lư nhằm cải hoán hoặc “sửa chữa” luyến ái đồng giới dựa trên những lư thuyết tiến triển mà tính xác thực khoa học của nó là có vấn đề. Hơn nữa, các báo cáo rời rạc về những “trường hợp trị liệu” cũng gặp phải đối trọng của những khẳng định răi rác về sự nguy hại tâm lư. Trong bốn thập niên gần đây, các nhà trị liệu “bù đắp” đă không đưa ra được bất kỳ một nghiên cứu khoa học nào chứng minh cho những khẳng định trị liệu của họ. Cho đến khi một nghiên cứu như vậy đă có được, APA khuyến nghị các đạo đức gia thực hành hăy kiềm chế những nỗ lực thay đổi khuynh hướng t́nh cảm giới tính của người khác, kiềm chế các quả quyết y học, và đừng gây hại [cho “người bệnh”].

3. Tài liệu chuyên môn của liệu pháp “bù đắp” sử dụng những lư luận khiến nó khó định dạng các tiêu chuẩn chọn lọc khoa học cho cách thức trị liệu. Tài liệu này không những làm ngơ tác động sỉ nhục xă hội trong những nỗ lực có động cơ nhắm vào việc chữa trị đồng tính ái, nó đồng thời cũng là một tài liệu sỉ nhục một cách hăng hái đối với luyến ái đồng giới. Tài liệu của liệu pháp “bù đắp” cũng có hướng cường điệu kết quả của những trị liệu này trong khi lờ đi bất kỳ rũi ro tiềm tàng nào cho người bệnh. APA khuyến khích và ủng hộ những nghiên cứu tại NIMH và của các nhóm nghiên cứu có uy tín khoa học để tiếp tục xác định những rũi ro của liệu pháp “bù đắp” vốn đối nghịch với những lợi ích của nó.


(Trong bản Anh ngữ có một danh sách 46 tài liệu phục vụ cho việc tham chiếu các nhận định của Tuyên bố, cũng như Tuyên bố năm 1998 được đề cập. Trong khuôn khổ forum, xin lược đi những thông tin này)

[ Next Thread | Previous Thread | Next Message | Previous Message ]

Replies:
Subject Author Date
Bang Texas thua kiện trước người đồng tính ái có sự giúp sức của các nhà khoa học.AngelFri, Jun 27 2003, 22:54:16


Post a message:
This forum requires an account to post.
[ Create Account ]
[ Login ]
[ Contact Forum Admin ]


Forum timezone: GMT+7
VF Version: 3.00b, ConfDB:
Before posting please read our privacy policy.
VoyForums(tm) is a Free Service from Voyager Info-Systems.
Copyright © 1998-2019 Voyager Info-Systems. All Rights Reserved.