VoyForums
[ Show ]
Support VoyForums
[ Shrink ]
VoyForums Announcement: Programming and providing support for this service has been a labor of love since 1997. We are one of the few services online who values our users' privacy, and have never sold your information. We have even fought hard to defend your privacy in legal cases; however, we've done it with almost no financial support -- paying out of pocket to continue providing the service. Due to the issues imposed on us by advertisers, we also stopped hosting most ads on the forums many years ago. We hope you appreciate our efforts.

Show your support by donating any amount. (Note: We are still technically a for-profit company, so your contribution is not tax-deductible.) PayPal Acct: Feedback:

Donate to VoyForums (PayPal):

Login ] [ Contact Forum Admin ] [ Main index ] [ Post a new message ] [ Search | Check update time ]


[ Next Thread | Previous Thread | Next Message | Previous Message ]

Date Posted: 02:43:38 09/09/17 Sat
Author: Anonymous
Subject: Tiếng Quảng - Tiếng Tiều 2

NGẦU PÍN : Quảng đọc là ngầu píl. Hán Việt là Ngưu Tiên. Ngưu là bò. Tiên viết có bộ cách (da) chỉ nghĩa và tiên (roi) chỉ âm. Ông Lê Ngọc Trụ lại chú là ngầu biên làm tớ lật chữ biên, chữ phiến... mỏi cả tay mà không thấy. Té ra ổng đọc theo âm Bắc Kinh của từ Bian...

NHẨM XÀ : Quảng đọc là ỷâm xà, tức là ẩm trà.

NHỊ TỲ : âm Quảng của chữ Nghĩa Địa, đã nói ở trên (xem hui nhị tì)

PHÁ LẤU : Tiều đọc là phá lấu. Hán Việt là đả lỗ. Lỗ là muối mặn, kho mặn. Đả lỗ là ướp mặn. Thịt phá lấu thì khỏi cần tả chi cho nhiều, chỉ cần tưởng tượng với chai đế là đã nhỏ dãi.

PHÁNH THÒN XÁNG : Quảng đọc là fảl thoòng xál. Hán Việt là phiên đường sơn. Chữ này ít thông dụng, tớ chưa bao giờ nghe, nhưng cũng xin biên ra đây bởi vì cái chữ Thòn Xáng hay Đường Sơn. Lật từ điển tìm ý nghĩa của chữ Đường Sơn mà chẳng thấy cuốn nào giải thích cho rõ ràng. Tại sao lại thắc măc. Tại vì ai mà không nhớ phim "Đường Sơn đại huynh" mà Lý Tiểu Long thủ vai chính. Ông Lê Ngọc Trụ nói rằng Đường Sơn có nghĩa là Tàu (Trung Quốc). Nếu đúng thế thì "Đường Sơn đại huynh" là đại ca người Tàu, có thế thôi. Còn chữ Phiên có nghĩa là về. Phiên Đường Sơn là đi về Tàu, quê cha đất tổ của họ.

PHAY : Phay như thịt gà xé phay. Quảng đọc là fai. Hán Việt là khối, tức là miếng nhỏ xé vụn, lát mỏng.

PHÌ LÚ : Quảng đọc là fèi lôu. Hán Việt là phì lão. Phì là mập. Lão của Tàu không phải luôn có nghĩa là ông lão. Lão thường để chỉ một người bạn, một người quen. Như tớ hay gọi anh em bằng Lão. Nôm na là thằng mập.

PHỔ KY : Quảng đọc là fỏ kêi. Hán Việt là hỏa ký. Hỏa là người giúp việc làm bếp, ký thì như thư ký. Hỏa ký là anh bồi chạy bàn hoặc người giúp việc trong tiệm buôn bán.

PHỔ (Phở, phổi) TAI : Quảng đọc là hỏi tai. Hán Việt là Hải Đới. Hải là biển, đới là dây. Rong biển. Nấu chè tàu thưng (đậu xanh) với phổ tai (rong biển).

PHỞ : Tiếng này thì bàn cãi cả ngày không hết. Có người nói rằng Phở là từ chữ Pot au feu, một loại "xúp" Tây. Mùa đông tới thì tớ vẫn hay nấu pot au feu cho cả nhà ăn mấy ngày. Dễ ợt. Hành, poireau, carốt, củ cải trắng, khoai tây, cần tàu nấu chung với xương bò và thịt bò cho thiệt nhừ thì thành pot au feu. Nhưng ông Lê Ngọc Trụ lại nói rằng phở là từ ngầu ỵuc fảnh. Ngầu ỵuc là ngưu nhục, thịt bò. Fảnh là phấn. Phấn viết có bộ mễ là đồ làm bằng bột gạo. Nhưng ông không giải thích rõ tại sao từ fảnh mà lại lọt ra thành phở. Hình như Nguyễn Tuân có lối giải thích riêng của ông ta. Mai mốt có thêm giờ rảnh thì sẽ tìm hiểu cho tường tận.


SỞ HỤI : Đó là đọc theo giọng Tiều. Hán việt là sở phí. Thí dụ : Sở hụi đám tiệc này bao nhiêu?

TẢ PÍN LÙ : Âm Quảng là Tả Píl Lồu. Hán việt là Đả Biên Lư. Đả không phải chỉ là đấm đá như "đả phiên thiên hạ vô địch thủ", nhưng có thể hiểu như làm một hành động nào đó. Biên như biên giới, Lư là lẩu tức là cái lò lửa. Tại sao lại là biên? Có lẽ ý nói rằng anh em xúm lại chung quanh (biên) món lẩu để nhậu chơi. Có phải nên hiểu chữ biên như thế không? Sáng nay có đọc câu Kiều : Dường như bên nóc bên thềm / Tiếng Kiều đồng vọng, bóng xiêm mơ màng. Thì "bên nóc bên thềm" có lẽ phải hiểu rằng chung quanh đây.

TÀI XỈU : đã bàn. Đọc giọng Quảng. Âm hán việt là đại tiểu, tức chơi lúc lắc ăn tiền. Đặt theo số lớn (đại) và số nhỏ (tiểu).


TÀO KÊ : đó là đọc theo âm Tiều. Âm hán việt là bảo mẫu, tức là mụ Tú Bà, chủ nhà điếm.

TÀU HỦ : Quảng đọc là Tầu Fù. Âm hán việt là đậu phụ hay đậu hủ.

TÀU HỦ KI : Quảng đọc là Tầu Fù phềi. Phềi là Bì, tức là da. Tàu hủ ky là lớp váng vàng nổi trên mặt khi nấu đậu hủ.

TÀU VỊ YỂU : Quảng đọc là Tầu Mểy Yầu. Hán Việt là đậu vị dầu. Đậu như đậu nành. Vị là mùi vị. Dầu là chất cốt.

TÁU hay TÁO XỌN : Tiều đọc là Tàu Xọn. Âm hán việt là đậu soạn, tức là đậu xanh.

TẰNG XẠI : Tiều đọc là Tằng Xại. Âm hán việt là đông thái. Đông như mùa đông. Thái là rau. Một thứ cải bắc thảo ướp muối để dành ăn qua mùa đông. Ở Tây bây giờ họ thường bán cải tằng xại trong một cái hủ tròn tròn dẹp dẹp làm bên Tàu nhập cảng qua. Ngon và rẻ. Mỗi lần làm một món gì cần có nhân thịt thì tớ bỏ thêm chút tằng xại thái thiệt nhỏ cho thêm chút mùi.

TẨM QUÁCH : Đó là đọc theo giọng Quảng. Hán việt không có chữ tương đương với chữ Tẩm, có lẽ đây là một thổ âm Quảng. Quách là âm hán việt của chữ Cốt. Thí dụ như xí quách (trư cốt) tức là xương heo. Cũng còn đọc tẩm quách là tẩm quất. Ba cái đồ đấm bóp kiểu Tàu đó mà.



XÀ BẦN : Tiều đọc là chập bầng. Hán Việt là thập bình. Thập như thập cẩm, bình viết như chữ bình. Nghĩa là đủ thứ loạn xà ngầu. Bây giờ người ta gọi xà bần là gạch ngói nát vụn, nhưng lúc trước xà bần cũng còn được dùng để chỉ đồ ăn dư, đồ ăn vụn.

XÁ LỊ : Quảng đọc là xùe lỉ. Hàn việt là tuyết lê. Tuyết viết như tuyết trắng, lê như trái lê. Tức là trái lê, có vậy thôi. Ổi xá lị là trái ổi to và ngon ngọt như trái lê.

XÁ XÍU : đọc theo giọng Quảng, thổ âm Quảng? Khi viết thì chữ Xíu đọc theo hán việt là thiêu. Thịt xá xíu thì ai mà không biết.

XẤC BẤC XANG BANG : đó là tại mình đọc theo giọng Quảng. Hán việt là thất quốc tha bang. Thất là mất, quốc là đất nước, tha là của người ta, bang cũng có nghĩa là nước nhà. Thất quốc tha bang là phải đi qua xứ người sinh sống.

XÂM BỔ LƯỢNG : đó là đọc theo giọng Quảng. Hán việt là thanh bổ lương. Thanh là tươi mát, bổ là bổ béo, lương cũng có nghĩa là lành lạnh mát mát. Đã là người Việt thì ai mà chưa ăn chè Thanh Bổ Lương?

XẨM : Đọc theo giọng Quảng. Hán việt là Thím. Nghĩ cũng vui. Chệt là chú, thì mình lại đọc theo Tiều. Xẩm là thím thì lại đọc theo Quảng. Chú Chệt, thím Xẩm đấy!

XÍ LẮC LÉO : tớ vẫn còn nhớ bài cải lương hề : xí lắc léo, ông liệu thân! mằng nó đừng đụng tui... Đó là mình đọc theo Quảng Xỉ léo. Âm hán việt là tử liễu. Tử là chết, liễu là xong rồi. Nôm na là coi chừng chết ngheng mày !

XÍ MỤI : Quảng đọc là Xúi mùi. Hán việt là Toan Mai. Toan là chua, Mai là trái mai. Mấy cô mấy bà, nhất là mấy bà mang bầu, ai lại không biết xí mụi.


Bạc = trắng (HV: bạch); vàng bạc; trắùng như bạc.
Bò bía (TC). Bò bía gồm có bánh tráng bột gạo hoặc bột mì, bọc nhưn (gồm nhiều nhất là củ sắn đã xào chín, vài con tôm khô nhỏ, vài miếng lạp xưởng mỏng đã luộc chín, đậu phộng rang).
Bảo kê (TC = bảo đảm bồi thường thiệt hại theo khế ước thỏa thuận. Bảo kê nhân thọ, bảo kê xe cộ, bảo kê sức khỏe v.v.
Bín = bện lại với nhau như tóc thắt bín hay giác bín (HV: biện).
Bò hó náng (TC) = người không tốt; HV: bất hảo nhân;
Cai : chừa bỏ món đã ghiền, (HV : giới). Thí dụ „cai“ thuốc.
Cánh chỉ (QĐ đọc cá-ying chi-i, HV: gia ứng tử = cũng là một loại kẹo trái cây) chạp phô (tạp hóa), hay là tiệm hàng xén
Cảo : vặn xoáy ra (thường là vặn theo chiều ngược). Động từ cảo thường do các thợ máy dùng.
Cấy báo = bánh bao nhưn thịt gà.
Cón (cón = láng) dân ta xài các t? ghép láng cón = thật láng, s?ch cón = hết sạch, không còn chút gì, thật sạch.
Cống hỉ phát xồi = cung hỉ phát tài . Lời chúc đầu năm tương đương với „cung chúc tân xuân“ của dân ta.
Cu ki = một mình không ai giúp, đơn độc ; HV: tự ký. Sao lúc nào anh cũng cu ki vậy?
Cú lũ = anh cao (HV: cao lão).
Cù lũ = tù binh; cù lũ còn là tên một mẫu trong bài „xập xám“ (bài 13 lá), hay phé (bài 5 lá) của Tàu. Mẫu nầy gồm gồm ba lá bài giống nhau đi chung với một đôi. (Mẫu bài gồm 5 lá bài).
Cũ xì = rất là cũ xưa (HV: cổ thì)
Chay = kiêng thịt; „xực chay“ = ăn cơm với rau cải thôi; HV : „thọ trai“.
Chí quách, còn gọi là xí quách. Có nhiều người, nhất là dân „nhậu“, khi vào tiện ăn trưa, trước khi gọi hủ tíu, hoặc hoành thánh, họ gọi „chí quách“ để nhăm nhi với bia hay với rượu trắng. „Chí quách“ có nghĩa đơn giản là „xương heo“ (chí = heo; quách = xương). Nhưng trong tiệm ăn, đây là món xương heo đã được dùng để nấu nước lèo. Xương đã hầm lâu trong nước sôi, nên lớp thịt mỏng hoặc gân còn dính ngoài xương đã trở nên rất mềm dễ gặm để tách rời khỏi xương. Vì vậy dân nhậu thích ăn „chí quách“ lắm. Nghĩa bóng là „sức lực“. (Anh ta hết „xí quách“ rồi, không làm gì được nữa).
Chía (TC) = ăn. Anh ấy chía một hơi hai dĩa bánh cuốn.
Chi-ệc hay chệc = chú = (TC) em của cha, hoặc là tiếng gọi một người lớn, nhưng nhỏ tuổi hơn cha mình (HV:thúc).
Da = cha (tiếng gọi cha hay gọi người lớn).
Dách = một (HV: nhất, nhứt). Số dách = số một, đứng đầu.
Dầu = chất béo từ động vật (mỡ), hay từ thực vật (dầu). Như mỡ bò, dầu ô liu v.v.
Dầu chá quảy. Có thể nói đây là một trong những chữ gốc Tàu chẳng những thông dụng ở vùng Đồng Nai Cửu Long mà hiện nay còn thông dụng ở hải ngoại nữa. Những tiệm bán cháo cá, cháo lòng, hủ tiếu v.v., đều có bán „dầu chá quảy“ . Tiếng QĐ, „dầu chá quảy“ có nghĩa là „quỷ chiên dầu“ (hoặc mỡ). Đây là một loại bánh bột mì gồm hai miếng dính lại và, trong dầu thực vật hay trong mỡ (động vật). Nhưng tại sao là hai miếng? Và tại sao gọi là quỷ chiên?
Bánh nầy có liên hệ đến hai nhân vật đời Nam Tống bên TH. Đó là Tần Cối và Nhạc Phi. Tần Cối đã dùng địa vị Tể Tướng của mình, xui giục vua Tống Cao Tôn ký hòa ước nhượng đất cho nước Kim. Nhạc Phi là võ tướng trung thần bị gian thần Tần Cối hại chết . Dân chúng thương tiếc Nhạc Phi và rất ghét Tần Cối . Vì vậy sau khi vợ chồng Tần Cối bị xử tử (bằng cách trói chung lại và bỏ vào vạc dầu sôi) dân chúng vẫn tiếp tục tỏ bày sự chán ghét vợ chồng Tần Cối, nên chế ra bánh „dầu chá quảy“, gồm hai miếng bột ghép chung lại, tượng trưng vợ chồng Tần Cối.
Dụ khị = nói thế nào cho người khác tin mình (khị = nó).
Đầu nậu = người đứng đầu một chuyện gì hay một nhóm người khác (HV:đầu não).
Giá (TC:Thầu giá; HV:đậu nha) = mầm đậu = giá
Há cảo = bánh tôm (há = tôm, cảo = bánh); bánh gồm bột bao quanh con tôm đã lột vỏ, và hấp chín.
Hắc ín = loại nhựa đen dùng trộn với đá xay nhỏ để trải đường còn gọi là dầu hắc; HV: hắc yên.
Hàm bà lằng (TC) = tất cả, toàn bộ; biến nghĩa của chữ nầy là „đủ thứ“ (vật dụng từ a đến z) như chữ „thập cẩm“.
Hầu bao = cái ví hay cái „bóp“ đựng tiền hay đựng giây tờ quan trọng.
Hẹ = „khách“: tên một chủng tộc xưa ở trung nguyên TH. Họ đã di cư đến Quảng Đông, Phước Kiến, TH, nên người QĐ gọi họ là „khách“. Ở VN cũng có người Hẹ.
Hàu xì = con nghêu hay con hào phơi khô.
Hò, xử, xang, xê cống, líu: tên các bậc âm trong cổ nhạc (HV đọc: hà, sĩ, thượng, xích, công, lục).
Hoành thánh = „mây nuốc“ vì có cái võ bên ngoài (giống mây) „nuốc“ (bao quanh) cái nhưn bên trong (HV : vân thôn);
Hộp = vật dùng để đựng. Ăn ở tiệm, còn dư thực phẩm có thể xin hầu bàn „lượng cơ hộp = hai cái hộp để đem thức ăn dư về.
Hủ tíu (TC đọc quẻ tíu; HV: qua điêu) nôm na là bánh phở . Nhưng chữ „hủ tíu“ chỉ chung thức ăn gồm có bánh phở, thịt heo hay các loại thịt, cá, nấu theo kiểu Tàu. Xin nhớ là những loại „hủ tíu“ nầy không bao giờø được gọi là „phở“ cả vì món chánh là thịt heo. „Phở“ được coi là thức ăn độc đáo của VN mặc dầu „bánh phở“ tức bột gạo cọng dài và khô khi chưa nấu đích thực là một loại „hủ tíu“ như của Tàu. Xin nhắc lại ở đây là tiếng „phở“ có lẽ có nguồn gốc là chữ „phảnh“ trong nhóm chữ „ngầu dục phảnh“ ( = hủ tíu thịt bò) của QĐ.
Hui nhị tỳ = về nghĩa địa = chết (TC/QĐ: hui, HV:hồi=về
Lạp chạp (TC) = lộn xộn.
Lạp xưởng. Trong các món xôi của dân ta có món xôi „lạp xưởng“ (tiếng HV: „lạp trường“). Đây là món dồi thịt heo (có lộn mỡ) ướp muối diêm, gia vị, và dồn vào ruột heo rồi phơi nắng, hoặc sấy ấm cho khô.
Lẩu. Chữ „lẩu“ có thể nói là một chữ gốc Tàu khác sống vượt thời gian và rất phổ biến như chữ „dầu chá quảy“. Món „lẩu“ là món thông dụng trong nhiều gia đình. Hầu hết các tiệm ăn từ bình dân cho đến các cao lâu đều có món „lẩu“. Nào là lẩu mắm, lẩu dê, lẩu lương, lẩu tôm mực, lẩu hải sản, lẩu thập cẩm v.v.
Chữ „lẩu“, QĐ đọc „lổ-ù“ có nghĩa là „lò lửa“. Chúng ta dùng luôn âm QĐ và đọc „lẩ-u“. Hình dạng đầu tiên của „lẩu“ là một dụng cụ nấu trong đó có cả „lò“ và „nồi“ chung nhau. Lửa được đốt từ bên dưới và sức nóng thoát lên qua một ống hình khối tròn và dài như ống khói. Vì nồi nấu có nước nằm bao quanh ống đó nên „lẩu“ còn có tên là „cù lao“.
Lậu =một loại bịnh truyền nhiễm qua giao hợp. HV : hoa liễu (bệnh).
Lè phè (QĐ đọc „lẹ phẹ“) = không tỏ ra siêng năng, hay quan trọng, chỉ làm cho có. Người lè phè sống qua ngày.
Lì xì = tiền cho người khác, thường để trong giấy đỏ, tiền cho trẻ em ngày tết (HV: lợi thì).
Mại = mua. Đây là tiếng „mại“ của QĐ. Chữ „mại“= mua của QĐ tiếng HV đọc là „mãi“. (Trong khi đó chữ „mại“ của HV lại có nghĩa „bán“ như „mại danh = bán danh tiếng, mãi danh = mua danh, mại mãi = bán buôn.)
Mại bản: người thay mặt hãng buôn lớn giao dịch vơi người ngoài. HV đọc „mãi biện“ Trong số từ ngữ Tàu (TC) được thông dụng ở miền Nam có từ Mái Chính (HV: mãi tấn), là người tổ chức mua hàng, ngày nay ngang với chuyên viên thu mua. Bên cạnh đó còn chuyên viên mãi biện, mãi bản tức người môi giới, tổ chức, bán vé trong ngành chuyên chở bằng tàu bè (comprador).
Mạt chược = tên một loại bài của người Tàu. Có một số dân VN cũng thích chơi loại bài nầy; Người ta thường nói „xoa mạt chượt“.
Mì = tiếng đọc trại của chữ „mìn“ = bột lúa mì có pha trứng, màu vàng, cắt sợi nhỏ. Luộc chín và dùng với nước lèo và thịt heo hay hải sản.
Mũ = nón (đội đầu che nắng).
Nạm = bụng; dân ta xài chữ „thịt bò nạm“ để chỉ loại thịt bò lóc từ sườn bò ra, có một lớp mỡ dính sát vào lớp nạt; loại „thịt nạm“ nầy thường dùng nấu bò kho, phở nạm.
Ngám = vừa đúng theo kích thước; „vừa ngám“ = vừa y, vừa triến, vừa vặn.
Ngầu: 1. = bò; ngầu dục = thịt bò (HV: ngưu). 2. =hung dữ, quạu quọ, khó tánh.
Nhẩm xà. QĐ nghĩa đơn giản là „uống trà“ (HV: ẩm trà). Nhưng nhóm chữ „tiền nhẩm xà“ lại có nghĩa là tiền „buộc boa“ (Pháp: pourboire) hay tiền „típ“ (Mỹ:tips) là loại tiền thưởng thêm cho người nào đã cung cấp cho mình một dịch vụ gì. Ngoài ra, sau nầy „tiền nhẩm xà“ được dùng theo nghĩa rộng hơn: đó là tiền chi phí trong việc giao tế. Theo thời gian, nó được hiểu là „tiền hối lộ“ cho công việc được thuận lợi.
Pha = sợ; trong bài phé, „pha“ là chịu thua, không để thêm tiền vào nữa.
Phá lấu (TC). Có thể dùng lòng heo (bao tử, gang, tim, lưỡi v.v.) ướp hương liệu, xì dầu và đem um (nấu với lửa nhỏ) cho vừa cạn nước gia vị. Món ăn nầy TC gọi là „phá lấu“. Đây là một trong những món mà dân „nhậu“ rất thích.
Phàn = cơm; (HV đọc „phạn“). Đi chung với chữ phàn chúng ta có vài chữ đôi mà những người VN có bạn Tàu-Việt đều hiểu và dùng thường: Xực phàn = ăn cơm, (HV: thực phạn). Phay = mảnh vụn hay miếng mỏng. Thịt phay = thịt heo luộc cắt thành lát mỏng; gà xé phay = gà luộc xé thành miếng nhỏ trộn với rau răm và các loại rau khác (tùy ý thích của từng nhà, ca dao có câu: „Gà cồ ăn quẩn cối xay, Rau răm muối ớt xé phay gà cồ“); có thể „dao phay“ (dao lớn để chặt xương hoặc cắt thịt) cũng do chữ „phay“ nầy của QĐ mà ra.
Phì phà chảy = ca nhi, cô hát. Nghĩa khác là gái điếm.
Phổ ky = người hầu bàn (bồi bàn) trong tiệm ăn hay nhân viên bán tiệm tạp hóa. HV đọc „hỏa ký“.
Phổi tai còn có tên VN là „khổ tai“ (HV :hải đới). Đó làø „rong biển“, và cũng là một vật liệu thường có trong món tráng miệng khác là „chè đậu xanh“ mà QĐ gọi là lục tầu xá (HV: lục đậu sa); hồng tầu xá = chè đậu đỏ
Phóng xủi = gió, nước; HV: „phong thủy“ = chữ chỉ về việc phương hướng, địa thế đất đai. Thầy phóng xủi còn được gọi là thầy địa lý sống bằng cách coi xem phương hướng, địa thế coi có hạp với người cần làm một việc gì.
Sâm bổ lượng. (QĐ : txíng pổu lu-ởng, HV : thanh bổ lương) là một „vị thuốc mát bổ (gồm) có phổi tai, bo bo, hoài sơn, bá hợp hoa, trái táo khô. . . ăn dưới hình thức chè“ (Lê Ngọc Trụ).
sở hụi= sở phí, chi phí
Tả pín lù. Cách đây khoảng trên bốn thập niên, hay lâu hơn, món „lẩu“ còn có tên là món „tả píl lù“ (đọc trại thành „tả pín lu“). Người ta chuẩn bị các loại rau (tùy ý thích) và các loại khác như cá, tôm, thịt heo (hoặc gà, bò v.v.) dọn lên bàn ăn. Đốt lửa nấu sôi nước pha giấm, hoặc nước lèo (hoặc nước có pha mắm xay nhuyễn). Khi nước sôi, mỗi người tự để rau cải và loại tôm, thịt mình thích vào nước lèo đang sôi. Khi thấy độ chín vừa ý thích, gắp ra cuốn bánh tráng, chắm mắm nêm hay nước mắm pha và ăn. Nói khác đi cách ăn nầy y như ăn món „bò nhúng dấm“ trong bữa ăn „bò 7 món“.
Tiếng QĐ, „tả píl lù“ , HV đọc „đả biên lư“ nghĩa đen là „đánh bên lò“ (2). Ngôn ngữ QĐ dùng ba chữ nầy để chỉ món ăn vừa tả ở đoạn trên. Dân ta sau nầy đọc trại một chút thành „tả bín lù“ hoặc „tạp bín lù“. Nhóm chữ nầy có khi được dùng theo nghĩa „đủ thứ“ như trong nghĩa chữ „thập cẩm“.
Ngày nay, „lẩu“ là món ăn với lò lửa ngay trên bàn ăn dù dùng hình thức „cù lao“ hay không. Điều cần nói là trong cách ăn „lẩu“, các món vật liệu đã được nấu trước rồi, lò lửa chỉ có phận sự giữ cho món ăn tiếp tục còn nóng, chớ không có phận sự „nấu chín“. Còn ăn „tạp bín lù“ hay „nhúng dấm“ (hay „nhúng nước lèo“) thì rau cải, thịt, và các hải sản còn tươi (chưa nấu chín) sẽ được nấu từng phần tại bàn ăn; việc „nấu“ và „ăn“ xen kẽ suốt buổi ăn. Vì vậy, chủ nhơn của bữa tiệc phải lo canh sao cho có đủ sức nóng giúp nước sôi mau, nếu có ai để nhiều thức ăn vào nước lèo. Và vì mỗi người tự chọn số lượng và tự nấu lấy, nên độ chín của của vật liệu có thể khác nhau theo ý muốn của mỗi người. Như vậy „lẩu“ và „nhúng dấm“ là hai cách ăn khác nhau mặc dù cả hai đều dùng „lò lửa“ tại bàn ăn.
Tài = lớn, (HV: đại); Xỉu = nhỏ (HV:tiểu); tài xỉu = lớn nhỏ = tên một loại cờ bạc.
Tài phú: người lo về trông coi tiền thu, xuất
Tài lũ = anh, tiếng xưng hô để gọi một người lớn hơn mình.
Tằng xại (TC), HV=đông thái. Đông là mùa đông, thái là tất cả những loài rau cỏ ăn được. Nghĩa rộng: tằng xại, tăng xại là rau cải ướp gia vị dự trử để dùng vào mùa đông. Đặc sản trung quốc tằng xại là cải muối có gia vị, còn có tên là „cải bắc thảo“, thường dùng để ăn như một món dưa mặn, hay có thể để vào canh thịt, thịt chưng, hoặc nước lèo bò viên.
Tằng khạo (TC). Theo Ông Lê Ngọc Trụ, „tằng khạo“ (HV: đồng khảo) là người thay mặt chủ điền trông nom giùm những thửa ruộng của chủ (làm việc không công) HV: đồng khảo. Theo TS Phan Tấn Tài, „tằng khạo“ hay „từng khạo“ là người thông ngôn. Người từng khạo đóng vai trò người cai (trong thực tế họ là người ra lịnh thay chủ), cai thợ, cai công (nông nghiệp), cai thuyền.
Tẩy = đáy hay mặt dưới của một vật (HV: „để“). Trong loại bài „phé“, „tẩy“ là lá bài úp. Những người chơi loại bài nầy quan sát vẻ mặt của đối phương và đoán lá „bài tẩy“ của đối phương để quyết định „pha“ hay chịu thua, hoặc quyết định „tố“ tức là để thêm tiền vào thách thức đối phương có dám thêm tiền cho bằøng số hoặc thêm nhiều hơn nữa để thách thức. Nghĩa bóng của chữ „tẩy“ là việc được giấu kín, hay bề mặt thực sự của một việc, không muốn người ngoài hay đối phương biết; nếu họ biết được sẽ có điều bất lợi cho người dấu tẩy.
Tẩy chay = một cách biểu lộ sự phản đối một việc gì hay một người nào qua hình thức tránh tất cả mối liên hệ với việc hay người đó.
Tàu vị yểu (đọc trại của chữ „tàu mêi yầu“ = nước chấm làm bằng tương đậu nành. Còn gọi là „xì dầu“.
Tẩu : do chữ yíl tẩu = cái ống điếu để hút thuốc.
Tía : Cha (TC & QĐ = cha, dượng). Chữ nầy rất thông dụng ở miệt Hậu Giang. (Ca dao VN :
Con cò nó mổ con lươn,
Bớ chị đi đường (ghe lườn) muốn tía tôi không,
Tía tôi lịch sự quá chừng,
Cái lưng mốc thích cái đầu chơm bơm.
Tiệm xấm hay tiệm xâm có nghĩa là „ăn sáng“ hay „ăn lót lòng“; (HV:điểm tâm). Nhưng „tiệm xâm“ là cách lót lòng với những món ăn rất „Tàu“ có tên quen thuộc vì đã bị Việt hóa.
Tố (QĐ, QT) = nhiều. (HV: đa) Trong bài „phé“, tố là thêm tiền để thách thức đối phương đánh theo. Nếu đối phương không theo là đối phương chịu thua. Nếu đối phương tố mà ta không dám theo (vì sợ nếu theo thì bị thua nhiều hơn) thì ta thua số tiền đã đặt ra ở những lần „tố“ trước.
Tùng = lá bài được để ngửa lên trong một vòng của bài „cách tê“ vì trong vòng đó nó là lá bài lớn nhất. „Tiêu tùng“ là không có lá nào để ngửa. Tiêu tùng còn có nghĩa là mất hết cơ hội rồi.
Tửng 1. (TC = đứa trẻ nhỏ) như thằng tửng; 2. còn tửng của QĐ có nghĩa là sang nhượng lại như: Anh tôi có „tửng“ một căn phố thương mại gần chợ để mở tiệm cơm. „Tiền tửng“ một cái nhà là số tiền phải đưa cho một người để họ dọn ra và người chịu „tiền tửng“ sẽ dọn vào nhà đó.
Tỷ (TC) = em trai, còn là tên cho con trai. Thằng Tỷ năm nay được tám tuổi.
Thầu kê (TC) = ông chủ.
Thầu xáng = người sếp, người cầm đầu của nhóm phổ ky. HV : „đầu sanh“.
Thấu cấy = ăn cắp gà. (HV: thâu kê). Nghĩa bóng là lừa gạt. Gạt gẫm người khác. Không thể tin ông ấy được vì thỉnh thoảng ông ta chơi trò „thấu cấy“.
Thò lò = cái bông vụ, một loại đồ chơi của trẻ em. Nó cũng là một vật dụng dùng trong bài bạc.
Thồi. Dính líu tới nhà hàng Tàu, chúng ta có chữ „thồi“ = bàn tiệc . HV đọc là „đài“. Một nhận xét, nhưng không có cách giải thích thích đáng, là người Bắc dùng chữ „thồi“ thường hơn dân Nam khi nói đến tiệc tùng ở nhà hàng Tàu. Dân trong Nam thường dùng chữ „bàn“.
Thùng phá xảnh = một con bài trong bài „xập xám“. Con bài nầy gồm năm lá cùng „một nước“ (cùng loại) nhau. HV gọi là „đồng hoa duẫn“. Về bài sập xám, có hai hạng sau đây là hai con bài lớn: Nhứt „tứ quí (hạng nhất là bốn lá bài giống nhau như 4 lá ách, hay 4 lá tám), nhì „đồng hoa“ (thùng phá sảnh).
Xà bần : Do tiếng „chập bần“ của TC = nhiều món trộn lẫn với nhau. Gạch đá xà bần là gạch đá vụng do việc đập phá sân hay nền nhà, đổ lẫn lộn nhau thành đống. „Nồi xà bần“ là nồi nấu chung nhiều món ăn dư của buổi tiệc hay của bữa ăn trước.
Xá xíu = thịt heo ram có màu đỏ
Xá lỵ trái lê Tàu; HV:tuyết lê
Xẩm = „thím“ = vợ của chú. Thí dụ: Sao chú và „xẩm“ không dẫn em Hoa đi theo cho vui. Dân ta dùng luôn hai tiếng Việt và QĐ „thím xẩm“ và hiểu là „thím xẩm“ là thím người Tàu, hay „người đàn bà Tàu“.
Xập kỉ nìn = chỉ vật cũ kỹ lắm rồi. ((HV:thập kỉ niên = (đã xài từ) mười năm rồi)). Vật đã quá cũ, quá xưa.
xây lũ cố = em nhỏ, thằng nhỏ
Xế = xe. Tài xế = người lái xe.
Xê cố = kem lạnh (cà rem); HV: „tuyết cao“.
Xí í-léo (TC) = chết; (HV:tử liêu); dân ta đọc trại thành „xí lắt léo“.
Xí mứng (TC) = bốn cửa. Nghĩa bóng là dùng kế, hay phương cách làm người khác thi hành theo ý mình và có lợi cho mình. Thí dụ: Anh đó chơi „cú xí mứng“ đễ dụ mầy hùn vốn (mượn tiền) cho ảnh làm ăn. HV đọc là „tứ môn“.
Xí muội = một loại kẹo (mứt) trái cây khác, nhiều vị mặn hơn ngọt, HV đọc là „toan mai“ sau nầy thành „ô mai“)
Xiên xáo hay xương xáo (TC) = thạch đen, một loại thức ăn chế biến từ thực vật; QĐ gọi nó là „lường phảnh“ = bột mát.
Xín xái (TC) = sao cũng được; xín xái bò lái bò khự (TC) = bỏ qua đi, sao cũng được mà, tính đại khái cho xong.
Xính xáng (QĐ và QT đọc gần giống nhau) = ông, thầy hay cô giáo, chồng (tiếng xưng hô). HV : „tiên sinh“.
Xíu mại = thịt heo hoặc bò, băm nhỏ, ướp gia vị, có thể có một lớp da „hoành thánh“ bọc một phần, có thể có thêm tôm, núm rơm hay núm đông cô trộn chung trong thịt băm, và được hấp chín.
Xuận xủi xuận phong = thuận gió thuận nước; đây là câu chúc cho một người hay nhiều người sắp đi xa. (VN ta cũng có câu chúc „thuận buồm xuôi gió“).
Xủi = nước; quảnh xủi = nước sôi, pín xủi = nước đá lạnh.
Xủi cảo = bánh nước, giống như hoành thánh nhưng to hơn, ngoài thịt heo bằm ra, thường có tôm, và nấm mèo, dùng làm nhân, và có hình bánh quai vạc của VN.
Xường xám = áo dài (đàn bà), kiểu Thượng Hải, tay ngắn, hoặc dài, hai vạt trước và sau như áo dài VN nhưng bó sát gần chân , có xẻ hai bên từ hông xuống hết chiều dài của áo. Đây là một kiểu áo trông rất „sexy“. (HV : trường sám).
Yến (TC) = 10 cân = 6 kilô ; đơn vị đo lường (trọng lượng) ngày xưa.

[ Next Thread | Previous Thread | Next Message | Previous Message ]

Post a message:
This forum requires an account to post.
[ Create Account ]
[ Login ]
[ Contact Forum Admin ]


Forum timezone: GMT-8
VF Version: 3.00b, ConfDB:
Before posting please read our privacy policy.
VoyForums(tm) is a Free Service from Voyager Info-Systems.
Copyright © 1998-2019 Voyager Info-Systems. All Rights Reserved.