VoyForums
[ Show ]
Support VoyForums
[ Shrink ]
VoyForums Announcement: Programming and providing support for this service has been a labor of love since 1997. We are one of the few services online who values our users' privacy, and have never sold your information. We have even fought hard to defend your privacy in legal cases; however, we've done it with almost no financial support -- paying out of pocket to continue providing the service. Due to the issues imposed on us by advertisers, we also stopped hosting most ads on the forums many years ago. We hope you appreciate our efforts.

Show your support by donating any amount. (Note: We are still technically a for-profit company, so your contribution is not tax-deductible.) PayPal Acct: Feedback:

Donate to VoyForums (PayPal):

Login ] [ Contact Forum Admin ] [ Main index ] [ Post a new message ] [ Search | Check update time | Archives: 12[3]45678 ]
Subject: Thư ngỏ gởi Chủ nhiệm Uỷ ban các vấn đề xă hội của Quốc hội


Author:
Angel
[ Next Thread | Previous Thread | Next Message | Previous Message ]
Date Posted: Thu, Nov 18 2004, 23:22:19
In reply to: Angel posted 's message, "Chủ nhiệm Uỷ ban các vấn đề xă hội của Quốc hội nói về ĐTLA" on Thu, Nov 18 2004, 23:19:13

16.11.2004

Lê Trần Huy Phú

THƯ NGỎ GỞI BÀ NGUYỄN THỊ HOÀI THU, CHỦ NHIỆM UỶ BAN CÁC VẦN ĐỀ XĂ HỘI CỦA QUỐC HỘI
http://talawas.org.server173-han.de-nserver.de/talaDB/showFile.php?res=3231&rb=0503

Posted: Angel


Kính thưa Bà Nguyễn Thị Hoài Thu, Chủ nhiệm Uỷ ban các Vấn đề Xă hội của Quốc hội,

Tôi vừa được đọc bài trao đổi của Bà với phóng viên VietNamnet, với tựa đề “Chưa nên có luật cấm hay thừa nhận hiện tượng “gay”” (http://www.vnn.vn/chinhtri/doinoi/2004/11/344821/). Bà là người đầu tiên trong cơ quan quyền lực nhà nước công khai bàn đến đồng tính luyến ái. Do vậy, cuộc trao đổi này có ư nghĩa không nhỏ, v́ có thể phần nào cho thấy chỉ báo về thái độ từ chính quyền đối với vấn đề. Và cũng do vậy, với tư cách một người nghiên cứu thuộc ngành nhân văn, tôi thấy ḿnh có trách nhiệm phản hồi, để đông đảo bạn đọc rộng đường hơn trong nhận định.

Thư ngỏ này là một tiếng nói thành tâm, nhằm góp thêm thông tin, mà không hề mảy may có ư định công kích hay “dạy đời”.

1. Một thái độ đáng trân trọng

Trước hết, tôi xin bày tỏ ḷng ngưỡng mộ đối với Bà. Với cương vị người đứng đầu một trong những uỷ ban có vai tṛ lớn trong cơ quan lập pháp, thời gian qua, Bà luôn lên tiếng bảo vệ các quyền lợi dân sinh, quan tâm các đến thành phần trong xă hội. Và nay, Bà lại lên tiếng trong vấn đề mà bấy lâu vẫn không chính thức thảo luận đến.

Hết sức cảm kích khi bà cho rằng người đồng tính luyến ái “đáng thương chứ không đáng trách ǵ họ! Bởi v́ cái đó nhiều khi bản thân họ cũng không ư thức việc đó! Có khi từ bản năng con người trước một cái vẻ đẹp của người khác, chẳng qua con người đó đồng giới với ḿnh!” Điều này cho thấy Bà nh́n đă nh́n đồng tính ái là một vấn đề tự nhiên, không phải do con người tự chọn lựa con đường t́nh cảm đầy gian truân và bất trắc, mà trong sự xung đột của bản thân và kỳ thị của xă hội, không ít người đă rơi vào trạng thái tress kéo dài đầy nguy hiểm, hoặc đành chọn cho ḿnh một đời sống tiêu cực theo hướng này hay hướng khác (cho họ và cho những người liên quan), thậm chí không ít người từng tính đến chuyện tự kết liễu.

Chỉ cần một ít tinh ư là có thể nhận ra, chính Bà là người dẫn dắt cuộc phỏng vấn chứ không phải người phỏng vấn. Và sự dẫn dắt này là để chủ động đưa quan điểm rằng không dùng luật để cấm hay thừa nhận đồng tính luyến ái. Ngay khi trả lời câu hỏi thứ hai, mà vốn không đề cập đến luật pháp, Bà đă lập tức khẳng định tính vô hiệu nếu luật pháp quy định (được ngầm hiệu là cấm) đối với vấn đề này. Với suy diễn phần nào vơ đoán của tôi, phải chăng đă có ư kiến từ những ai đó, đề nghị dùng luật pháp để chế tài hiện tượng này, và cuộc trao đổi với VietNamnet chính là để có câu trả lời chính thức của Bà nói riêng và của lănh đạo Quốc hội nói chung cho cách đặt vấn đề như vậy? Cho dù suy diễn này không đúng, ở đây tôi vẫn muốn bày tỏ sự tán thưởng, và cả sự biết ơn, về một quan điểm đúng đắn, trước sự chủ động của Bà trong việc bác bỏ ư tưởng đưa luật pháp can thiệp vào quan hệ t́nh cảm cùng phái theo hướng áp chế nó.

Tôi cũng hoàn toàn đồng ư rằng không ra pháp luật cấm, không khuyến đồng tính luyến ái, mà khuyến khích các nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề, để đưa lời đáp đúng đắn cho hiện tượng này. Có thể có người hiểu cuộc trao đổi của Bà là tiêu cực cho người đồng tính ái, nhưng nhận định của riêng tôi, chính là Bà đang bảo vệ cho họ, trên tinh thần bao dung và tôn trọng sự xác thực khoa học đối với vấn đề. Người đồng tính luyến ái, cũng như bạn bè ủng hộ họ, không trông mong ǵ hơn thế từ phía chính quyền và toàn thể cộng đồng xă hội.

Tuy nhiên, như tôi đă nhận định trong bài viết “Nh́n bằng đôi mắt bao dung”: “những ǵ mà luyến ái đồng giới trước nay vốn phải hứng chịu chính là sự bất khoan dung xuất phát từ sự thiếu hiểu biết và những định kiến thiếu sự đồng cảm trước đồng loại, sự bỏ mặc của các thế hệ trước đối với hiện tượng đang trở nên một thực tế bán công khai này ở phần giới trẻ có liên quan.” Với tất cả sự trân trọng chân thành dành cho Bà, tôi vẫn buộc phải nói rằng thông tin mà Bà tiếp nhận c̣n hết sức thiếu thốn, từ đó, những tŕnh bày của Bà có thể vô t́nh khiến cộng đồng hiểu sai không ít về t́nh cảm cùng phái.

2. “Bệnh lư” và cơ sở sinh học

Đồng tính luyến ái không hề là một căn bệnh, cả về sinh lư lẫn tâm lư. Đó không phải là một nhận định tùy tiện, càng không phải là người đồng tính luyến ái tự biện hộ, mà là kết luận của các tổ chức khoa học hàng đầu thế giới.

Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (American Psychiatric Association, APA), tổ chức y học chuyên ngành lâu đời nhất ở nước này, và cũng là hội tâm thần học lớn và uy tín nhất thế giới, hiện có hơn 35.000 hội viên, từ năm 1973 đă loại đồng tính luyến ái ra khỏi Danh sách các Triệu chứng và Bệnh rối loạn Tâm thần (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders). Từ đó đến nay, Hiệp hội này, đóng vai tṛ là người dẫn đầu, cùng với Hiệp hội Tâm lư học Hoa Kỳ (American Psychological Association) và Hiệp hội Y học Hoa Kỳ (American Medical Association), v.v…, bằng thiên chức khoa học của ḿnh, luôn lên tiếng đấu tranh, không chỉ trên b́nh diện khoa học, mà cả trên b́nh diện chính trị, cho quyền tồn tại xă hội và pháp lư của người đồng tính luyến ái.

Tổ chức Y tế Thế giới (Word Health Organization, WHO), mà vai tṛ của nó đối với y học toàn cầu là không ai có thể phủ nhận, năm 1992 cũng làm điều tương tự như APA đă làm vào năm 1973. Trong Phiên bản thứ 10 của Danh sách Phân loại các Chứng bệnh trên Thế giới (International Classification of Diseases, 10th Edition) đă không c̣n hiện diện “bệnh” đồng tính luyến ái nữa.

Giờ đây, nếu không là bệnh, không c̣n cơ sở cho sự thương hại, phải chăng t́nh cảm đồng giới trở thành một chọn lựa lối sống đáng lên án? Hoàn toàn không như vậy. Dưới ánh sáng khoa học – dù việc soi rọi của nó rất chậm chạp (một phần do những tác động chống đối của các lực lượng bảo thủ) so với sự trưởng thành nhanh chóng trong xu hướng t́nh cảm giới tính của nhiều lớp thanh thiếu niên và sự uẩn ức, uất ức mà họ phải gánh chịu – cơ sở sinh học của đồng tính luyến ái đang ngày càng được minh chứng vững chắc.

Tôi xin trích nguyên văn thông tin đă được giới thiệu trên mạng VietNamnet trước đây:

“Năm 1991, bác sĩ LeVay, khoa Thần kinh, Viện Salk (Mỹ) đă công bố nghiên cứu giải phẫu một phần năo vùng dưới đầu của 41 tử thi. Đây là những người đă tử vong do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong số họ, có 16 người đồng tính luyến ái. Bác sĩ phát hiện ra rằng, những người đồng tính luyến ái, thành phần INH3 (cấu trúc nhỏ được biết đến như một yếu tố điều khiển thái độ tính dục ở động vật có vú) nhỏ gấp hai lần so với những người khác.

Năm 1993, một nhóm nghiên cứu y học do Dean Harner đứng đầu đă t́m mối liên hệ giữa gene và chứng đồng tính luyến ái. Họ t́m thấy một điểm đặc biệt trên nhánh dài của nhiễm sắc thể X, được truyền từ mẹ sang con và thường gặp ở những người đồng tính luyến ái.”
(http://www.vnn.vn/suckhoe/bacsitaigia/2003/11/36613/)

Tôi xin nói thêm rằng công tŕnh về gene đồng tính ái sau đó bị một nhóm khác cho là không chính xác, v́ những thử nghiệm của họ không cho kết quả tương tự. Tuy nhiên, nhóm của Harner vẫn không hề từ bỏ kết luận của ḿnh. Trên tinh thần khách quan khoa học, ta có thể nói gene đồng tính ái vẫn chưa có đủ tính xác thực cuối cùng, nhưng sự thận trọng cần thiết đó không hề làm suy giảm chút nào thực tế sinh học tự nhiên của luyến ái đồng giới. Một khám phá khoa học mới nhất đă đưa ra ánh sáng cơ chế di truyền của khuynh hướng cùng phái trong t́nh cảm.

Ngày 12.10.2004, nhóm các nhà di truyền học tại University of Padova, Ư, do Andrea Camperio-Ciani dẫn đầu, đă t́m ra cơ chế giải thích cho điều được gọi là “Nghịch lư Darwin” của tính dục đồng giới: đàn ông đồng tính luyến ái sinh sản ít hơn đàn ông dị tính luyến ái, tại sao tính dục đồng giới vẫn luôn được duy tŕ, đời này sang đời khác? Nghiên cứu của nhóm Camperio-Ciani chứng minh tác di truyền của đặc điểm đồng tính bên “ḍng máu” phía người mẹ có ảnh hưởng lên (những) người con trai, và chính những người cô/ d́, chị/ em gái của họ là những “vật mang”, tiếp tục truyền tác nhân di truyền đồng tính cho (các) thế hệ sau.

Các khoa học gia này thận trọng cho rằng những ǵ họ khám phá không phải là tác nhân duy nhất của đồng tính luyến ái, mà c̣n có yếu tố văn hóa và trải nghiệm tính dục, nhưng đă một lần nữa mạnh mẽ cho thấy rơ ràng có một tác nhân di truyền-gene với tư cách một quy định sinh học nơi người đồng tính luyến ái. Cần lưu ư thêm, nghiên cứu lần này được tiến hành trên diện rộng, đủ đảm bảo cho tính phổ biến của nó: đối tượng nghiên cứu là 98 người đồng tính và 100 người dị tính, cùng với hơn… 4.600 người thân thuộc của họ (ở đối tượng phức tạp như con người, và ở vấn đề phức tạp như vậy, con số chọn mẫu như thế có thể xem là chóng mặt trong thống kê học.).

Chính cơ sở sinh học-tự nhiên của tính dục đồng giới tự nó đă là một khẳng định, đă là một đ̣i hỏi hoàn toàn chính đáng, mà cũng là tiếng gọi lương tri đồng loại đối với sự tồn tại b́nh đẳng về mặt xă hội và pháp lư cho người đồng tính ái.

3. Đạo đức và khoan dung

Đồng tính luyến ái không là “bệnh”, và càng không phải là “bệnh hoạn”. Nếu từ này được hiểu theo nghĩa y vụ (ví dụ “nó bệnh hoạn luôn”), lời đáp đă được tôi đề cập ở trên. Nhưng nếu từ này được hiểu theo nghĩa đạo đức, dù người nói hoàn toàn không ác ư, nó sẽ gây nhói ḷng cho phía này, và có thể gây kỳ thị từ phía khác.

Tôi hoàn toàn không đồng t́nh với một số quan niệm và hành vi xă hội, cũng như quan niệm và hành vi t́nh dục của một bộ phận người đồng tính luyến ái, dù về mặt tâm thần học, tâm lư học và t́nh dục học, nhiều hành vi trong số này có thể được cảm thông ở mức độ nào đó. Thế nhưng, phần lớn các quan niệm và hành vi của người đồng tính luyến ái cũng chỉ nằm trong quan niệm và hành vi chung của con người, gồm cả hành vi lành mạnh và hành vi không lành mạnh. Gắn kết một số quan niệm và hành vi nào đó, cho dù là trong hoạt động t́nh dục, mà ở người dị tính cũng có, xem như “bệnh hoạn” ở người đồng tính, là việc làm bất công.

Quan hệ t́nh cảm giữa những người đồng giới, như quan hệ giữa những người dị giới, cũng có loại người thủy chung và không chung thủy. Nó cũng có loại nghiêm túc và cũng có loại lẳng lơ. Nó cũng có t́nh yêu thật ḷng và t́nh cảm tiền bạc. Nó cũng có hy sinh và phản bội. Nó cũng có phạm pháp h́nh sự và tranh chấp dân sự. Nó cũng có t́nh bạn và t́nh yêu. Nó cũng có tiếng sét ái t́nh và t́nh yêu lư trí. Nó cũng có người biết tiết chế và kẻ dâm tặc. Nó cũng có tư cách và vô liêm sĩ. Nó cũng có người trí thức và kẻ vô học. Nó có những kẻ xấu xa, nhưng cũng không thiếu những con người đang hàng ngày đóng góp vào sự thịnh vượng của quốc gia, từ vị trí xă hội mà họ đảm nhận...

Trừ những người thích thể hiện sự khác phái trong con người ḿnh – mà đây chỉ là một bộ phận rất nhỏ, hoặc là do đặc điểm thật trong cơ thể họ, hoặc là một biểu thị phản ứng tâm lư-h́nh thể trước định kiến xă hội – th́ người đồng tính luyến ái, về mặt thể chất vật lư lẫn mặt xă hội, hoàn toàn không khác biệt ǵ so với người dị tính luyến ái, ngoài điều duy nhất: họ có t́nh cảm giới tính với người cùng giới tính, là điều vốn có cơ sở sinh học-di truyền, như đă nói.

Ngoài phần nổi “gay lộ”của tảng băng, người đồng tính luyến ái, nam cũng như nữ, họ sống hàng ngày bên cạnh chúng ta. Họ có thể là người con, người cha, người mẹ, người họ hàng, người bạn, người đồng nghiệp, người thuộc cấp hay cấp trên của chúng ta. Họ có thể là người công nhân, anh cảnh sát, chị thư kư, là nghệ sĩ, bác sĩ, giảng viên, quan chức… Họ có thể là các chuyên gia, khoa học gia, triết gia, chính trị gia… Họ là người dân thường mà cũng có thể là người lănh đạo. Cuộc đời của họ trôi qua b́nh dị như bao người, mà cũng có thể ghi lại những dấu vết trong lịch sử, chính trị, khoa học, nghệ thuật…

Khi nào xă hội có thể nh́n những biểu hiện b́nh thường này ở những người đồng tính ái là… b́nh thường, khi nào xă hội không đánh giá một biểu hiện, một hành vi đáng trách của một gay, một nhóm lesbian nào đó thành một vấn đề kinh khiếp của tất cả những người đồng tính luyến ái, th́ khi đó xă hội đă có thái độ chấp nhận và khoan dung.

Khoan dung ở đây được đề cập không như một động thái đạo đức, điều mang nghĩa rằng có sự tha thứ cho sai lầm. Khoan dung, trên b́nh diện xă hội, văn hóa và chính trị, được hiểu là thái độ sẵn sàng chấp nhận những niềm tin và hành động khác với ḿnh của các thực thể xă hội khác. Diễn đạt khác đi, đó là sự dung chứa lẫn nhau những dị biệt giữa các nhóm xă hội, nhóm văn hoá, và cả giữa các (nhóm) quốc gia khác nhau. Chính là từ đây mà h́nh thành sự đa văn hoá xă hội, trong đó có đa văn hóa tôn giáo, đa văn hóa sắc tộc, đa văn hóa tính dục… Khoan dung và đa văn hóa hàm chứa, mà cũng là một hệ quả của xă hội công dân và dân chủ: quyền tồn tại xă hội và b́nh đẳng của các nhóm thiểu số, trong đó có thiểu số tính dục.

Hiểu như vậy sẽ thấy rằng khoan dung xă hội đối với t́nh cảm đồng giới không có nghĩa là bộ phận không đồng tính ái là những người đứng trên, là những người có tư cách đạo đức hơn, và có quyền phán xét đối với người đồng tính ái, để rồi từ đây ban cho họ sự tha thứ. Mà đúng ra, là cả hai nhóm người có khuynh hướng t́nh cảm giới tính trái ngược (dù đương nhiên có cán cân hoàn toàn không tương xứng) này, có tư cách b́nh đẳng nhau trên lĩnh vực t́nh yêu, t́nh dục, b́nh đẳng về mặt giá trị và đạo đức, và mỗi phía cần chấp nhận niềm tin t́nh cảm, hành động t́nh ái của phía bên kia. Đó là sự chấp nhận lẫn nhau giữa con người với con người, mà không phải một ai đó, một nhóm người nào đó cho rằng ḿnh cao quí hơn về t́nh cảm giới tính và tính dục, để rồi cho ḿnh cái quyền phán xét điều này ở người khác một cách độc đoán.

Không thiếu những người đồng tính ái có học thức, có tri thức, có nhân cách, có đóng góp lớn lao trong xă hội, có t́nh cảm cao quí, có t́nh yêu và hy sinh đáng trân trọng; và cũng đầy ra đó những người có t́nh yêu dị tính nhưng thiếu năng lực, thấp hèn, ích kỷ, phi nhân. Vế thứ nhất xin hăy thử chịu khó t́m hiểu những vấn đề lịch sử, học thuật có liên quan (tiếc rằng tài liệu tiếng Việt cực kỳ hiếm); xin hăy chịu khó đọc ở những bài viết nghiêm túc, những cái tâm, những t́nh cảm chân thật, những tấm ḷng, những giằng xé, mất mát, khổ đau… được thể hiện trên các forum mạng. C̣n vế sau th́ vẫn hàng ngày chúng ta vẫn phải va chạm trong cuộc sống, thiết nghĩ không cần phải nói nhiều.

Xin đừng hiểu lầm rằng tôi muốn nói người đồng tính ái th́ cao quí c̣n người dị tính ái là thấp hèn, nghĩ như vậy có họa là ở người mất trí. Ư tôi là nhân cách tùy ở đạo đức của mỗi người, không phải ở khuynh hướng t́nh cảm giới tính của họ. Cái chân, thiện, mỹ có ở cả người dị tính và đồng tính, và ngược lại, cái giả dối, cái ác độc, cái xấu xa có ở người thích người cùng phái hay khác phái. Đơn giản là giữa khuynh hướng đạo đức, năng lực tri thức và kỹ năng thực tế, với khuynh hướng t́nh cảm giới tính, là những phạm vi khác biệt nhau. Không thể v́ khuynh hướng t́nh cảm giới tính mà gắn kết vào đó là cao quí hay thấp hèn, là tốt hay xấu. Sự gắn kết đó, nếu có, chính là sự định kiến phi nhân bản mà con người, trên con đường tiến hóa đạo đức, nếu không lọc bỏ được, sẽ là sự thui chột đạo đức mang tính người.

[ Next Thread | Previous Thread | Next Message | Previous Message ]

Replies:
Subject Author Date
Thư ngỏ gởi Chủ nhiệm Uỷ ban các vấn đề xă hội của Quốc hội (tt)Angel postedThu, Nov 18 2004, 23:25:06


Post a message:
This forum requires an account to post.
[ Create Account ]
[ Login ]
[ Contact Forum Admin ]


Forum timezone: GMT+7
VF Version: 3.00b, ConfDB:
Before posting please read our privacy policy.
VoyForums(tm) is a Free Service from Voyager Info-Systems.
Copyright © 1998-2019 Voyager Info-Systems. All Rights Reserved.