Subject: Thư ngỏ gởi Chủ nhiệm Uỷ ban các vấn đề xă hội của Quốc hội (tt) |
Author:
Angel posted
|
[
Next Thread |
Previous Thread |
Next Message |
Previous Message
]
Date Posted: Thu, Nov 18 2004, 23:25:06
In reply to:
Angel posted
's message, "Chủ nhiệm Uỷ ban các vấn đề xă hội của Quốc hội nói về ĐTLA" on Thu, Nov 18 2004, 23:19:13
4. Luật pháp và sự thừa nhận
Suy luận vơ đoán của tôi rằng đă có ư kiến dùng luật pháp can thiệp vào quan hệ t́nh cảm cùng giới tại Việt Nam, được liên kết không chỉ với trao đổi của Bà, mà c̣n với sự kiện c̣n nóng hổi tại Hoa kỳ.
Việc mười một bang của Hoa Kỳ trong ngày 02.11 vừa rồi bỏ phiếu chuẩn thuận ngăn chặn hôn nhân đồng giới (một kết quả mà ai có quan tâm đều dự báo được), cùng lúc với chiến thắng của Tổng thống Bush, có nghĩa là việc tu chính hiến pháp Liên bang để thực hiện sự cấm đoán này sẽ được tiếp tục theo đuổi. Đó không phải là chiến thắng đạo đức và chiến thắng của “ḷng dân”, mà là chiến thắng của một chiến lược tôn giáo hóa chính sách của nhà nước thế tục, là chiến thắng của chiến lược gây chia rẽ trong một quốc gia vốn có sự dung chứa đa văn hóa.
Ai đó ở Việt Nam muốn lấy đây làm gương, nếu đúng, xin nói thẳng, đó là loại ư kiến đi ngược lại ḍng tiến hóa chung của luật pháp trong vấn đề này. Đi đôi với việc b́nh thường hóa quan hệ cùng giới trong đời sống, xu hướng của luật pháp tiến bộ là tháo khoán những luật kỳ thị chống người đồng tính luyến ái nay c̣n rơi rớt lại từ trong lịch sử, cùng lúc, tăng cường các luật bảo vệ họ trong lĩnh vực công ăn việc làm, an sinh xă hội, và định h́nh các mô h́nh pháp lư thừa nhận quan hệ chung sống của họ. Mục tiêu mà chính quyền Bush đang theo đuổi: tái luật hóa chống quan hệ đồng giới, mà cụ thể là hôn nhân, nếu không muốn nói là duy nhất, th́ cũng hoàn toàn là thiểu số trên thế giới đang có xu hướng luật hóa để thừa nhận quyền của cộng đồng này.
Các tổ chức y học hàng đầu (WHO, APA…), các tổ chức nhân quyền quốc tế (Human Rights Watch, Amnesty International…), Liên hiệp quốc và các cơ quan chuyên trách của nó (U.N. Human Rights Committee…), Liên hiệp Châu Âu, và ngay cả Đệ tứ Quốc tế Cộng sản…, đều khẳng định quyền tồn tại xă hội của các cộng đồng thiểu số về t́nh cảm giới tính.
Trong khi tại nước Mỹ, các thế lực bảo thủ chuẩn bị ca khúc khải hoàn v́ hạ gục được một bộ phận vốn chỉ là tuyệt đại thiểu số yếu thế và yếm thế - người đồng tính luyến ái, th́ lẳng lặng hơn, ở Châu Âu, ngày 27.10 đă nổ ra một “khủng hoảng” (theo đúng cách nói của giới truyền thông), nguyên nhân không phải v́ ủng hộ mà là v́ công kích đồng tính luyến ái. Tầm mức của khủng hoảng không nhỏ một chút nào, khi nó liên quan đến các định chế chính trị của Liên hiệp Châu Âu. Đó là việc Chủ tịch mới của Uỷ hội Châu Âu (tương đương hành pháp) phải rút lại danh danh Uỷ hội trước sự phản đối của các dân biểu Nghị viện Châu Âu, v́ trong danh sách, Rocco Buttiglione, người Ư, dự kiến giữ chức vụ Cao ủy viên phụ trách Tư pháp, trước đó đă phát biểu có ư bài xít đồng tính luyến ái. Chính quyền Ư vẫn dành sự ủng hộ cho nhân vật này, nhưng tự ông sau đó đă phải rút lui và cũng không dám thừa nhận thái độ bài đồng tính luyến ái của ḿnh, khi thanh minh rằng ông chỉ là nạn nhân của việc trích dẫn sai ngữ cảnh. Cuộc khủng hoảng nhân sự cấp cao này đến nay vẫn chưa giải quyết xong. Điều này cho thấy, việc tôn trọng phẩm giá của người đồng tính cùng với sự tồn tại pháp lư trong các quan hệ của họ là một tiêu chuẩn không thể bỏ qua trong đời sống chính trị Châu Âu.
Cũng lẳng lặng như thế, mới ngày 09.11 đây thôi, tại nước Anh, đồng minh thân cận nhất của Hoa Kỳ tại Châu Âu, Hạ viện đă thông qua Dự luật Đối ngẫu Dân sự (Civil Partnership Bill), mà truyền thông nước này gọi đó chính là hôn nhân, chỉ trừ tên gọi.
Đây chỉ là sự thừa nhận pháp lư gần nhất đối với quan hệ đồng giới. Trước đó, điều này đă được thực hiện dưới nhiều h́nh thức khác nhau, ở nhiều cấp độ khác nhau, không phải chỉ vỏn vẹn ở điều là có hai nước (đầu tiên: Hà Lan và Bỉ) cho phép hôn nhân đồng giới. Để có đầy đủ chi tiết, mong Bà và những ai quan tâm đọc văn bản có tên “Không phân biệt đối xử trong hôn nhân dân sự: Nh́n từ luật pháp và thực tiễn nhân quyền quốc tế” (Non-Discrimination In Civil Marriage: Perspectives From International Human Rights Law And Practice), do Human Rights Watch phát hành ngày 04.09.2003, mà tôi đă dịch cùng bài viết “Hôn nhân: B́nh đẳng pháp lư cho các quan hệ đồng giới”, đăng tại talawas.
Từ ngày 04.09.2003 đến nay, tiến tŕnh nh́n nhận pháp lư đối với t́nh cảm đồng giới cứ tiếp tục nối dài.
Đầu tháng 12.2003, Hạ viện Thụy Sĩ thông qua dự luật cho phép đăng kư quan hệ gia đ́nh của các cặp cùng giới. Và tháng 6.2004, toàn thể Quốc hội nước này cũng đă thông qua dự luật. Cuối tháng 12.2003, Quốc hội Israel thông qua lần đầu dự luật về một số quyền giới hạn cho các đối ngẫu có cùng giới tính. Vào ngày cuối của năm 2003, trong khi chính phủ Bảo thủ Astralia vẫn giữ thái độ không chấp nhận việc chính thức hóa quan hệ chung sống đồng giới, bang Tasmania đă cho tiến hành đăng kư quan hệ của các cặp này, cùng với các phúc lợi như các cặp dị giới. Tại Canada, dù lịch tŕnh hợp thức hóa hôn nhân đồng giới ở cấp Liên bang đă bị đ́nh hoăn so với dự định là cuối năm 2003, nhưng lần lượt các vùng đă thực hiện điều này: Ontario (06.2003), British Columbia (07.2003), Quebec (03.2004), Yukon (07.2004), Manitoba (09.2004). Nh́n vào bản đồ, một phạm vi tương đương hai phần ba lănh thổ Canada đă hợp thức hóa hôn nhân đồng giới. Ngày đầu tháng 10.2004, chính phủ Tây Ban Nha đă thông qua dự luật mà khi có hiệu lực sẽ trao quyền hôn nhân đầy đủ cho những người cùng giới. Và tháng 11 này là nước Anh, như đă nói.
Có thể nói, trong một tương lai không xa, chúng ta sẽ chứng kiến một làn sóng các quốc gia đi vào hiệu lực chính thức trong việc công nhận pháp lư hôn nhân đồng giới hoặc một h́nh thức tương đương như vậy.
Tại Hoa Kỳ, kể từ năm 2000, khi bang Vermont đi tiên phong trao các quyền gia đ́nh cho các cặp đồng giới bằng h́nh thức "Kết hợp Dân sự" (Civil Union), đến nay, sự công nhận đối với gia đ́nh đồng giới vẫn tiếp tục diễn ra, bên cạnh sự chống đối hết sức gay gắt.
Ngày 30.03.2004, Hạ viện Maryland, thông qua dự luật Đối ngẫu Cuộc đời (Life Partners) cho người đồng tính luyến ái. Ngày 26.06.2003, Tối cao Pháp viện Liên bang ra phán quyết bác bỏ Đạo luật Hành vi Đồng giới (Homosexual Conduct Statute) của bang Texas. Tối 19.09.2003, Thống đốc sắp măn nhiệm của California đă kư thành luật “Đạo luật về Quyền và Trách nhiệm Đối ngẫu Gia đ́nh” (Domestic Partners Rights and Responsibilities Act of 2003), khi có hiệu lực vào tháng 01.2005, sẽ trao cho các đôi đồng giới chung sống gia đ́nh có đăng kư của bang hầu hết các quyền và nghĩa vụ pháp lư của hôn nhân. Ngày 11.11.2003, Thống đốc bang Wisconsin phủ quyết một dự luật đến từ các nhà lập pháp nhằm tái định nghĩa hôn nhân là duy nhất giữa nam và nữ. Ngày 18.11.003, Ṭa án tư Pháp Massachusetts ra một phán quyết khiến, lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, hôn nhân của những người cùng giới tính được nh́n nhận pháp lư. Và vào ngày 20.05.2004, những hôn sự cùng phái tính hợp pháp đầu tiên đă được thực hiện trên đất Hoa Kỳ. Trước đó, ngày 12.01.2004, Thống đốc New Jersey đă kư thành luật dự luật Đối ngẫu Gia đ́nh đồng giới của bang.
Xin nói thêm, cho dù Cộng ḥa hiện nắm hành pháp, chiếm đa số trong lập pháp, và sẽ bổ nhiệm những thẩm phán về phe với họ tại Tối cao Pháp viện Liên bang, điều đó không có nghĩa là tu chính hiến pháp chống hôn nhân đồng giới sẽ chắn chắn có được. Muốn một tu chính đi vào Hiến pháp, nó cần được hai phần ba của cả Thượng và Hạ viện chuẩn thuận, cùng lúc với hai phần ba các bang đồng ư. Và trước bầu cử, sau khi đă “mềm hóa” dự khoản tu chính chống gay này, ngày 14.07.2004, Thượng viện vẫn đă thất bại trong việc thông qua.
Ngay tại Châu Á, không nói đến Thailand, th́ những năm qua, Nam Hàn và Singapore, những nơi có tiếng là hà khắc với đồng tính luyến ái, cũng đă từng bước bóc dỡ những cấm kỵ. Đài Loan th́ đă có kế hoạch thừa nhận hôn nhân cùng giới từ cuối tháng 10.2003. Nếu (chỉ là nếu) việc luật hóa chống quan hệ đồng giới được thực hiện tại Việt Nam – xin quay về quê nhà - th́ đây sẽ là nơi duy nhất của Châu Á và là nơi thứ hai trên thế giới (sau Hoa Kỳ của Bush), vào lúc này mà c̣n (có dự định) thực hiện sự kỳ thị chính thức chống người đồng tính luyến ái bằng luật pháp. Điều đó, không kể mặt đối nội, về đối ngoại không thể tránh khỏi những xung đột về chính trị, pháp lư, và văn hóa với Liên hiệp Châu Âu, một trong những đối tác quan trọng nhất của Việt Nam trên trường quốc tế.
5. Việt Nam: kỳ thị và chấp nhận
Thưa Bà Nguyễn Thị Hoài Thu,
Những ǵ đă được nói ở trên, dù hoàn toàn không đủ cho một tŕnh bày chính thức về đồng tính luyến ái, nó cũng là một cái nh́n tổng quan về mặt khoa học và bối cảnh thế giới đối với vấn đề. Nay tôi xin nói chút ít về thái độ đối với luyến ái đồng giới tại Việt Nam.
Nói đến đồng tính luyến ái, điều đầu tiên được đề cập thường là sự kỳ thị. Nó được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau: từ chỗ chọc ghẹo, nh́n bằng cặp mặt khó chịu; rồi báng bổ, xúc phạm, xem là không đúng, không đạo đức, xa lánh; nặng nề hơn là tấn công, phân biệt đối xử trong công ăn việc làm, phúc lợi; và đỉnh cao là sự kỳ thị “hợp pháp” bằng luật pháp. Ở Việt Nam, hiện những biểu hiện ở các cấp độ sau không có, v́ thực chất nền văn hóa Việt Nam là có tính khoan dung.
Nhận thức phổ biến trong nước trước nay vẫn xem đồng tính luyến ái là “bệnh”. Cách nh́n này trở thành “thói quen”, và cũng trở thành cái cớ cho những người bênh vực họ người đồng tính ái lên tiếng, kêu gọi một sự thương hại, “từ bi hỉ xả” từ xă hội, mà cũng là để tránh bị chụp mũ luôn là đồng tính cho người lên tiếng.
Những e ngại rằng cách nh́n truyền thống khó chấp nhận đồng tính luyến ái, là không vững chắc. Thật ra, khác với truyền thống Thiên chúa giáo và Hồi giáo, tại Việt Nam, ngoài “bệnh” ra, đồng tính luyến ái không hề bị quy là “tội lỗi”. Một nền văn hóa xuất phát từ Phật giáo, ngay từ trong gốc kinh điển của nó lẫn các diễn dịch, đều không hề tỏ thái độ lên án đồng tính luyến ái, mà chỉ có vấn đề xa lánh nhục dục nói chung. Truyền thống Phật giáo vốn là vị tha và khoan dung.
Thái độ khoan dung ở Việt Nam thể hiện rất rơ. Những người có cùng giới tính cặp kè nhau, có cử chỉ thân mật (nắm tay, bá vai, ôm bụng, ngủ chung, quấn quít bên nhau…) là điều hoàn toàn b́nh thường. Các “bóng lộ” hay “ô-môi” th́ thoải mái phô bày trước người khác, và mọi người xung quanh, trừ một số ít ác ư, phổ biến vẫn là có một cái nh́n thoáng qua rồi thôi. Ai đó có biểu hiện hơi “nữ tính” (nét mặt, giọng nói, cử chỉ…), dù người khác có thể nói sau lưng này kia, nhưng vẫn không có khoảng cách trong các quan hệ công việc và tập thể, nếu không v́ nguyên nhân khác. Một số gay hiện cũng đă khai xuất (come out, chỉ sự công khai xuất hiện, công khai thừa nhận của người đồng tính ái), công khai quan hệ yêu đương, gia đ́nh…
Thế nhưng ba, bốn năm trở lại đây, dường như thái độ kỳ thị lại manh nha biểu hiện. Trên báo chí trong nước, chúng ta có thể thấy một vài tờ báo, một số phóng viên chuyên khai thác đề tài đồng tính gắn với các hiện tượng tiêu cực: những khu vực tụ tập của gay, những website sex gay, hành động măi dâm trá h́nh, hành vi công khai của “bóng lộ”, hậu trường đồng tính của giới ca sĩ, những vụ án h́nh sự liên quan đến đồng tính, “nạn dịch” đồng tính đang lan tràn, v.v… Lên án những hành vi không lành mạnh của người đồng tính (và cả người dị tính) là điều cần thiết, nhưng vấn đề là kiểu thông tin mang vẻ định kiến, một chiều, có yếu tố “câu khách”, “câu cơm” như vậy lại diễn ra trong bối cảnh các thông tin khoa học, cũng như những khía cạnh của vấn đề đặt trong bối cảnh xă hội công dân, th́ lại hết sức thiếu vắng. Những điều đó, cùng lúc với sự phớt lờ, không hay biết đến đời sống tiêu cực âm thầm mà người đồng tính luyến ái phải gánh chịu, đă khiến định h́nh trong dư luận về một nỗi lo trước nguy cơ đồng tính, đồng nghĩa với sự đồi trụy, xấu xa của toàn thể cộng đồng này, bao gồm cả số “nổi” và “ch́m”. Trong khi đó, cùng một tính chất sự việc, nếu ở người dị tính, th́ lại được xem b́nh thường và chỉ khoanh lại trong vụ việc.
Và, hệ quả là đă định h́nh cái gọi là “tệ nạn” đồng tính luyến ái!
Cách nh́n bất công đó thời gian gần đây đă có giảm đi, do những ṭa báo, những nhà báo có lương tâm, và một số nhân vật bắt đầu nh́n nhận lại vấn đề. Các thông tin internet, từ tiếng nói của những người trong cuộc đến những người ủng hộ sự thừa nhận xă hội đối với họ cũng đóng một vai tṛ quan trọng trong việc này. Theo tôi, tiến tŕnh nh́n nhận đồng tính luyến ái tại Việt Nam đă bắt đầu, và có thể không quá lâu dài và gian nan như ở các nước khác. Tôi nghĩ rằng cuộc trao đổi của Bà Nguyễn Thị Hoài Thu không nằm ngoài tiến tŕnh đó.
Tôi cũng cho rằng ngay lúc này, ở nước ta, chưa phải là lúc nh́n nhận bằng luật đối với đồng tính luyến ái. Cần một giai đoạn chuyển tiếp trong nhận thức xă hội. Tuy nhiên, điều cho rằng “Nước người ta khác, nước ḿnh khác!” cùng với so sánh về việc hợp pháp hóa măi dâm, là không được thỏa đáng cho lắm. Thời đại hội nhập dành rất ít đất cho sự duy ư chí, cô lập của riêng ḿnh, cho quyền phán xét chủ quan trên thân phận của người khác từ những tiêu chuẩn “đạo đức” vốn dựa trên những chuẩn mực cũ, không căn cứ vào cứ liệu khoa học.
Ở đây tôi không tiếp tục phân biệt hai vấn đề hoàn toàn khác nhau giữa măi dâm và đồng tính luyến ái, mà chỉ nêu hai ví dụ. Một là nhiều năm trước, giới y học trong nước đă đề ra giải pháp phát kim tiêm cho người nghiện ma túy để giảm thiểu lây truyền AIDS, nhưng những người có quyền quyết định không chấp nhận, v́ cho rằng như vậy là thừa nhận tệ nạn ma túy. Thailand thực hiện giải pháp đó, và nay họ là một trong những nước thành công trong việc ḱm chế AIDS, trong khi ta là một trong những nước có tốc độc lây nhiễm cao, đặt biệt trong những người tiêm chính ma túy! Ví dụ thứ hai: việc giáo dục giới tính trong trường học. Trong khi cứ loay hoay với lo ngại “vẽ đường cho hươu chạy”, chỉ “vẽ” lờ mờ, nên “hươu” không rơ, chạy tán loạn, theo đủ đường (sai). Kết quả: tỉ lệ phá thai vị thành niên ngày một cao, vượt xa các nước dám “vẽ đường” rơ cho “hươu”!
Không có ǵ ngạc nhiên, với tư cách người nắm trọng trách, Bà đương nhiên đưa nhận định dường như vẫn phải nằm trong cách nh́n “chính thống” hiện nay về đồng tính luyến ái. Do vậy, ngoài cái nh́n bệnh lư, giải pháp giáo dục cho thanh niên tránh t́nh yêu đồng giới cũng “cổ điển” không kém.
Bên ngoài, APA, với cái nh́n khoa học, đă trên một lần bác bỏ mạnh mẽ những “liệu pháp” tâm thần, tâm lư nhằm hoán cải người đồng tính “trở về” với dị tính. Lập trường này đă được tôi dịch nguyên văn kèm theo trong bài “Các nhà tâm thần học bảo vệ cho “bệnh” đồng tính luyến ái”. Tương tự, việc “giáo dục” ở ta cũng chưa hẳn là giải pháp khoa học và khả thi.
Giáo dục như thế nào đây? Chuyện phát giác người đồng tính trong tổ chức đoàn, hội hay tại cơ quan… để “giáo dục” họ, tôi nghĩ, với người biết tôn trọng nhân phẩm và tính cá nhân của người khác, th́ không bao giờ có thể đưa ra, v́ ở ta “giáo dục” kiểu đó thường biến tướng thành tự kiểm, hứa “tự nguyện” sửa chữa (đi kèm với sự chế tài ngầm về danh hiệu thi đua, tiền thưởng, cơ hội đề bạt…). C̣n nếu giáo dục đại trà bằng những buổi nói chuyện, liệu có tác dụng, liệu có đủ người đủ kiến thức và khả năng? Đó c̣n là chưa kể đại trà kiểu này lại vô t́nh khuấy lên một chiến dịch chống đồng tính luyến ái, lại lan truyền cách nh́n “bệnh hoạn” về đồng tính luyến ái, lây lan hoang mang về “bệnh dịch” đồng tính vây quanh, rồi nh́n nhau ḍ xét... Cách giáo dục, “uốn nắn” như vậy, nếu tạm cho là có thể (chỉ tạm thôi), chỉ nên là giải pháp riêng tư, áp dụng trong phạm vi gia đ́nh, bạn bè, và tư vấn, mà không thể là “vận động” xă hội.
Không kỳ thị, không khuyến khích, v́ bản thân đồng tính luyến ái không phải mặc nhiên là tốt hay xấu, cả về đạo đức lẫn sức khỏe, mà tốt hay xấu là ở mỗi con người cụ thể cùng với lối sống của họ, trong đó có việc sinh hoạt t́nh dục, dù đồng tính hay dị tính. Do vậy, không luật hóa, không ca ngợi đồng tính luyến ái (đương nhiên rồi), nhưng cũng không nên tạo dư luận không tốt cho hiện tượng này bằng cách chỉ khai thác (quá đáng) những biểu hiện tiêu cực nào đó của một bộ phận đồng tính luyến ái, để rồi khuấy lên tâm lư kỳ thị vốn không có trong truyền thống dân tộc ta. Nếu có tâm, xin hăy để cho xă hội có được một thời gian chuyển tiếp trong việc nh́n nhận công tâm hơn, thông qua việc nghiên cứu và cung cấp thông tin từ các nhà khoa học.
Các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực (tâm thần học, tâm lư học, xă hội học, t́nh dục học, và cả luật học, chính trị học, triết học…) cần vào cuộc để có lời đáp cho hiện tượng này, là ư kiến hoàn toàn đúng đắn. Đúng như Bà nói: “Nếu như nó không phương hại đến sức khoẻ, không hại ǵ đến đạo đức lối sống th́ không nên cấm! Nếu nó phương hại đến cuộc sống của con người, của thanh niên, các nhà khoa học nên khuyên thanh niên: Không nên yêu người cùng giới, nhất là không nên sinh hoạt t́nh dục!”
Tuy nhiên, vấn đề c̣n là nhà khoa học cần được tự do nghiên cứu và lên tiếng đúng với nội dung khoa học vốn có của sự việc, chứ không phải là họ được “định hướng” trước là nên khuyên thanh niên thế này, thế kia, với nội dung sẵn có là “bệnh hoạn”, là phương hại cho sức khỏe, là không đạo đức…
Tôi hoàn toàn tin rằng, với tinh thần khách quan và thiên chức của ḿnh, các nhà khoa học Việt Nam, khi nhập cuộc, sẽ không đi ngược với các kết quả nghiên cứu có uy tín về vấn đề này trên thế giới. Lời đáp sẽ là cần sự thừa nhận xă hội đối với t́nh yêu cùng giới. Tôi tin rằng, với trọng trách của ḿnh, khi phát biểu về vấn đề, Bà cũng đă ít nhiều tiếp xúc với thông tin khoa học, và với ư kiến “Nếu như nó không phương hại đến sức khoẻ, không hại ǵ đến đạo đức lối sống th́ không nên cấm!”, đó chính là cánh cửa đang và sẽ mở ra. Tôi cũng tin rằng trong xu hướng hội nhập quốc tế, trong đó có hội nhập về pháp lư, và, quyết định, trên con đường xây dựng nhà nước pháp quyền và xă hội công dân, ở Việt Nam, việc nh́n nhận xă hội đối với luyến ái đồng giới chỉ là về thời gian.
Thưa Bà Chủ nhiệm,
Tất cả những thông tin mà tôi đă ngỏ cùng Bà là những điều hoàn toàn có thể được kiểm chứng và có thể nghiên cứu sâu hơn, từ các nguồn sẵn có trên internet, chỉ tiếc rằng nguồn tiếng Việt rất ít. Tôi mong rằng với cái tâm của ḿnh, Bà có thể dành ít hời gian để tham khảo thêm chuyên mục “Đồng tính luyến ái trong xă hội hiện đại” tại talawas. Nơi đây hoàn toàn không phải là diễn đàn của người đồng tính, mà là tiếng nói của giới trí thức và văn nghệ sĩ, trong đó có không ít người có khả năng và vị trí học thuật hay văn học nghệ thuật.
Xin chân thành cám ơn Bà đă kiên nhẫn đọc thư ngỏ quá dài này. Kính chúc bà sức khỏe, hạnh phúc, và tiếp tục gặt nhiều thành công trên một cương vị đáng nể trọng.
Kính bút.
© 2004 talawas
[
Next Thread |
Previous Thread |
Next Message |
Previous Message
]
| |