VoyForums
[ Show ]
Support VoyForums
[ Shrink ]
VoyForums Announcement: Programming and providing support for this service has been a labor of love since 1997. We are one of the few services online who values our users' privacy, and have never sold your information. We have even fought hard to defend your privacy in legal cases; however, we've done it with almost no financial support -- paying out of pocket to continue providing the service. Due to the issues imposed on us by advertisers, we also stopped hosting most ads on the forums many years ago. We hope you appreciate our efforts.

Show your support by donating any amount. (Note: We are still technically a for-profit company, so your contribution is not tax-deductible.) PayPal Acct: Feedback:

Donate to VoyForums (PayPal):

Login ] [ Contact Forum Admin ] [ Main index ] [ Post a new message ] [ Search | Check update time | Archives: 12[3]456789 ]


[ Next Thread | Previous Thread | Next Message | Previous Message ]

Date Posted: 09:30:05 07/04/02 Thu
Author: Hoang Quy Son
Author Host/IP: cs662549-52.houston.rr.com / 66.25.49.52
Subject: Re: Nhung Tinh Tuy Ve Tu Vi
In reply to: Hoang Quy Son 's message, "Nhung Tinh Tuy Ve Tu Vi" on 09:24:54 07/04/02 Thu


tiep theo...

B. Hành Hỏa:
1. Hỏa của tháng Giêng: Khí của tháng Giêng, Mộc khí Lâm Quan, Hỏa khí Tràng Sinh, Thủy khí đã Bệnh, Hỏa rất mừng (HỈ) gặp Thủy, Mộc rất mừng (HỈ) gặp Kim để tiết khí. Hỉ (mừng) Mộc gặp Thủy trợ giúp nhưng không được qúa vượng.
2. Hỏa của tháng Hai: Khí của tháng Hai, Mộc khí Đế Vượng, Hỏa khí Mộc Dục, Thủy khí đã Tử, Hỉ Thủy (mừng gặp được Thủy), lại thích (Hỉ) Kim sinh Thủy để . Nhưng không thích Thủy quá mạnh, khắc Hỏa.
3. Hỏa của tháng Ba: Khí của tháng, Ba Mộc khí đã Suy, Hỏa khí Quan Đới, Thủy khí nhập Mộ, nên lấy Thủy để dùng (dụng Thần), nếu Thổ nhiều thì Hỉ Mộc để chế bớt hay tiết giảm, Hỏa mạnh thì Hỉ (mừng gặp) Kim, Thủy.
4. Hỏa của tháng Tư: Khí của tháng Tư, Hỏa khí Lâm Quan, Mộc khí đã Bệnh, nên Hỉ Thủy để tránh tự thiêu đốt lấy mình, nếu gặp Mộc tương trợ thì sinh nguy (vì Hỏa sẽ trở nên quá vượng), nếu không có Thủy mà gặp Thổ thì Thổ sẽ trở thành quá khô nên vô ích, nếu lại gặp thêm Mộc tương trợ thì càng nguy.
5. Hỏa của tháng Năm: Khí của tháng Năm, Hỏa khí Đế Vượng, Mộc khí đã Tử, Kim khí thì Mộc Dục, Hỏa của tháng Năm cực vượng, tối Hỉ gặp Kim, Thủy, nếu gặp Thổ ngăn Thủy, thì Kỵ Mộc tương trợ Hỏa.
6. Hỏa tháng Sáu: Khí của tháng Sáu, Hỏa khí đã Suy, Mộc khí vào Mộ, Kim khí thì Quan Đới, Thủy khí ở Dưỡng, tháng Sáu vẫn còn nóng nên cũng Hỉ (mừng gặp) Thủy để đắc dụng, thứ đến là Kim (vì Kim sinh Thủy), Kỵ gặp Thổ mà không có Thủy, tệ nhất là gặp Hỏa và Thổ vì Hỏa và Thổ quá nóng quá khô.
7. Hỏa tháng Bảy: khí của tháng Bảy, Kim khí Lâm Quan, Hỏa khí Bệnh, Thủy khí Tràng Sinh, Mộc khí đã Tuyệt, nên Hỏa khí của tháng Bảy đã thối dần, Hỉ (mừng gặp) Mộc trợ giúp, Kỵ gặp Thủy khắc sẽ thành tai họa, nếu Thổ quá nhiều sẽ thoát khí Hỏa, còn Kim quá nhiều sẽ mất thế của Hỏa (vì Kim sinh Thủy khắc Hỏa), nếu gặp được Hỏa thì có lợi.
8. Hỏa tháng Tám: Khí của tháng Tám, Kim khí Đế Vượng, Hỏa khí đã Tử, Thủy khí thì Mộc Dục, Mộc khí vào Thai, nên Hỏa khí của tháng Tám đã gần tàn, được Mộc sinh Hỏa là cực sáng, Kỵ Thổ nhiều và Thủy khắc thì thế (khí thế) của Hỏa sẽ lâm nguy!
9. Hỏa của tháng Chín: Khí của tháng Chín, Thủy khí Quan Đới, Hỏa khí nhập Mộ, Kim khí đã Suy, Mộc khí vào Dưỡng, Hỏa khí của tháng Chín đã tàn, tối Kỵ gặp Thổ, Hỉ Mộc khắc Thổ trợ Hỏa, Hỉ gặp lại Hỏa.
10. Hỏa của tháng Mười: Khí của tháng Mười, Thủy khí Lâm Quan, Hỏa khí đã Tuyệt, Kim khí thì Bệnh, Mộc khí đã Tràng Sinh, Hỏa khí của tháng Mười đã tuyệt tích, Hỉ Mộc Sinh vì được cứu, Kỵ gặp Thủy khắc là tai ương, gặp Hỏa thì lợi, hoặc gặp Thổ chế Thủy thì vinh.
11. Hỏa của tháng Mười Một: Khí của tháng Mười Một, Hỏa khí vào Thai, Thủy khí Đế Vượng, Mộc khí Mộc Dục, nên Hỏa của tháng Mười Một cũng tuyệt tích, Hỉ gặp Mộc, Hỏa, Kỵ gặp Kim, Thủy.
12. Hỏa của tháng Mười Hai: Khí của tháng Mười Hai, Hỏa khí vào Dưỡng, Thủy khí đã Suy, Thổ là hàn Thổ hay Thổ ướt, Mộc khí thì Quan Đới, nên Hỏa của tháng Mười Hai Thiên hàn Địa lạnh, Hỏa thế cực yếu, Hỉ Mộc, Hỏa trợ, Thổ nhiều thì bất Hỉ, Kỵ Kim, Thủy.

C. HÀNH THỔ:
1. Thổ của tháng Giêng: Khí của tháng Giêng, Hỏa khí Tràng Sinh, Mộc khí Lâm Quan, Kim khí vào Bệnh, nên Thổ của tháng Giêng Thổ hàn (khí lạnh) đang giảm, khí thế cô hư, vô dụng, Hỉ Hỏa sinh phù, Kỵ Mộc khắc chế thái quá, Kỵ Thủy tràn lan, Hỉ Thổ phù trợ. Được Kim chế Mộc là cát tường, nếu Kim đa (nhiều) thì khí Thổ bị Bệnh.
2. Thổ của tháng Hai: Khí Thổ của tháng Hai, Hỏa khí Mộc Dục, Mộc khí Đế Vượng, Kim khí vào Tử, nên Thổ của tháng Hai khí thế vẫn cô hư, vô dụng, Hỉ Hỏa sinh phù, gặp Thổ tỷ trợ là tốt, gặp Mộc nhiều thì Hỉ Kim chế Mộc.
3. Thổ của tháng Ba: Khí Thổ của tháng Ba, quý Thổ đương Lệnh (vượng), Hỏa khí Quan Đới, Mộc khí vào Suy, Thủy khí thì nhập, Hỉ Hỏa sinh phù, nếu quý Thổ quá vượng lại Kỵ gặp Mộc chế Thổ, vì Thổ Trọng thì Mộc bị gãy, nên Thổ vượng thì cần Kim để hoá, Hỏa thái Vượng thì Hỉ Thủy chế Hỏa.
4. Thổ của tháng Tư: Khí Thổ của tháng Tư, Hỏa khí Lâm Quan, Kim khí Tràng Sinh, nên Thổ của Nhật, Nguyệt, tối Kỵ Thổ táo (khô), được Thủy nhuận tưới là tốt (Hỉ Thủy), Mộc trợ Hỏa thì viêm (quá nóng) dù Thủy khắc cũng vô hiệu, nên lấy Kim để sinh Thủy chế Mộc là tốt.
5. Thổ của tháng Năm: Khí Thổ của tháng Năm, Hỏa khí Đế Vượng, Kim khí Mộc Dục, Thủy khí vào Thai, nên Thổ của tháng Năm Hỏa, Thổ qúa nóng quá khô, Hỉ Thủy và Kim sinh trợ, Kỵ Mộc trợ Hỏa thương thân (Mộc khắc Thổ, và Mộc sinh Hỏa thì Thổ trở thành táo khô), lại Kỵ Hỏa, Thổ khô táo.
6. Thổ của tháng Sáu: Khí Thổ của tháng Sáu, Hỏa khí đã Suy nhưng vẫn còn nóng, Thủy khí vào Dưỡng, Kim khí Quan Đới, nên Thổ của tháng Sáu khí thế vẫn còn táo khô, vẫn Kỵ Hỏa trợ thành táo khô, Hỉ Thủy và Kim sinh trợ.
7. Thổ của tháng Bảy: Khí của tháng Bảy, Kim khí Lâm Quan, Hỏa khí vào Bệnh, Thủy khí thì Tràng Sinh, nên Thổ của tháng Bảy, Thổ suy Kim vượng, Kỵ nhiều Kim sẽ cướp mất khí của Thổ (vì Thổ bị tiết khí), Hỉ Hỏa phù Thổ và chế Kim, được Thổ tỷ trợ là cực tốt, nếu Mộc nhiều vẫn Hỉ Kim chế Mộc.
8. Thổ của tháng Tám: Khí của tháng Tám, Kim khí Đế Vượng, Thủy khí Mộc Dục, Hỏa khí vào Tử, vẫn là Thổ Suy, Kim vượng, nếu hàn (lạnh) khí trở thịnh lại càng Hỉ Hóa chế Kim và sinh Thổ, Hỉ Thổ tỷ trợ.
9. Thổ của tháng Chín: Khí của tháng Chín, Kim khí vào Suy, Thủy khí Quan Đới, Hỏa khí nhập Mộ nhưng Thổ vượng đắc Lệnh, Kỵ gặp Hỏa để sinh Thổ, phải lấy Giáp Mộc để tiết khí Thổ, lại Hỉ Thủy tưới nhuận Thổ.
10. Thổ của tháng Mười: Khí của tháng Mười, Thủy Khí Lâm Quan, Kim khí vào Bệnh, Hỏa khí đã Tuyệt, nên Thổ của tháng Mười ngoài thì lạnh ở trong thì ấm, Hỉ Hỏa làm ấm Thổ, Mộc nhiều trợ Hỏa thì vô hại, gặp Thổ tỷ trợ là tốt.
11. Thổ của tháng Mười Một: Khí của tháng Mười Một rất lạnh, Thủy khí Đế Vượng, Kim khí đã Tử, Hỉ Hỏa làm ấm Thổ, nếu Thủy thái quá thì lấy Thổ khắc Thủy, Thổ quá vượng thì lấy Mộc tiết Thổ và trợ Hỏa, lại kỵ Kim sinh Thủy.
12. Thổ của tháng Mười Hai: Khí của tháng Mười Hai, trời lạnh đất cống, tối Hỉ Hỏa làm ấm thổ, Thổ nhiều thì Hỉ Mộc tiết khí Thổ và gặp Hỏa. Kỵ Thổ tỷ trợ, tuy nhiên, nếu chỉ gặp Thủy mà không có Hỏa và không có Mộc thì Hỉ Thổ chế Thủy.

D. HÀNH KIM:
1. Hành Kim của tháng Giêng: Khí Kim của tháng Giêng, Mộc khí Lâm Quan, Hỏa khí Tràng Sinh, Kim khí đã Tuyệt, nên Kim của tháng Giêng tánh nhu mà thể nhược (yếu), khí hàn (lạnh) chưa hết, nên lấy Hỏa sưởi ấm Kim là thượng sách, nhưng sợ Thổ nhiều sẽ vùi lấp Kim, Thủy thịnh tất tăng hàn (lạnh) và lại đoạt mất khí Kim, còn Mộc vượng thì Kim bị tổn khí, Kim bị mẽ, gãy. Nếu được Kim tỷ trợ phụ giúp là tốt.
2. Hành Kim của tháng Hai: Khí Kim của tháng Hai, Mộc khí Đế Vượng, Hỏa khí Mộc Dục, Kim khí vào Thai, Thủy khí đã Bệnh, nên Kim của tháng Hai vẫn suy nhược, Kỵ Thổ lấp Kim không thể sinh Kim, vẫn Hỉ Hỏa để cướp khí của Mộc và được Kim phù trợ.
3. Hành Kim của tháng Ba: Khí của tháng Ba, Quý Thổ đang nắm lệnh (vượng), Hỏa khí Quan Đới, Mộc khí đã Bệnh, Kim khí vào Dưỡng, nên Kim khí của tháng Ba cũng Kỵ Thổ qúa trọng vì có thể lấp mất Kim, nên Hỉ dùng Mộc để chế Thổ, và Hỏa để sưởi ấm Kim.
4. Hành Kim của tháng Tư: Khí của tháng Tư, Hỏa khí Lâm Quan, Mộc khí đã Suy, Kim khí Tràng Sinh, nên Kim của tháng Tư hình, chất chưa hoàn bị, khí thể vẫn còn nhu nhược, vì Kim mới Tràng Sinh nên không sợ Hỏa, và Hỉ Thủy tưới nhuận, nhưng Kỵ Mộc trợ Hỏa tổn thương Kim, gặp Kim phù trợ thì lại mạnh thêm, gặp Thổ mỏng thì tốt, nếu Thổ hậu (dày, sâu) thì lấp mất ánh sáng của Kim.
5. Hành Kim của tháng Năm: Khí của tháng Năm, Hỏa khí Đế Vượng, Kim khí Mộc Dục, Mộc khí đã Tử, nên Kim của tháng Năm tính chất vẫn còn mềm, Kỵ Hỏa qúa mạnh, Hỉ Thủy chế Hỏa để bảo tồn thân (Kim), tối Kỵ Thổ chế Thủy, Hỉ Kim tỷ trợ.
6. Hành Kim của tháng Sáu: Khí của tháng Sáu, Hỏa khí vào Suy, Kim khí Quan Đới, Mộc khí nhập Mộ, Qúy Thổ đang nắm lệnh, nên Kim của tháng Sáu Kỵ Thổ táo, nhiệt, Hỉ Thủy nhuận Thổ để sinh Kim, bất Hỉ Thổ táo sinh Kim vì Thổ trọng sẽ lấp mất Kim, cũng Hỉ Kim tỷ trợ để sinh Thủy.
7. Hành Kim của tháng Bảy: Khí của tháng Bảy, Hỏa khí đã Bệnh, Kim khí Lâm Quan, Mộc khí đã Tuyệt, nên Kim của tháng Bảy khí vượng mà lại cứng, bén, cần Hỏa trui rèn để thành khí cụ, nếu không Hỏa mà có Thủy thì Kim thanh Thủy tú (tối Hỉ), còn được nhiều Thổ tu bôi thì Kim bị vẩn đục, không tốt, nếu gặp Kim trợ thì trở thành quá cương sẽ gãy.
8. Hành Kim của tháng Tám: Khí của tháng Tám, Kim khí Đế Vượng, Thủy khí Mộc Dục, Hỏa Khí đã Tử, nên Kim của tháng Tám đương lệnh cực vượng, Kỵ Kim tỷ trợ, Hỉ Thủy tiết khí Kim, Hỏa lại luyện Kim, Mộc lại trợ Hỏa cũng nên.
9. Hành Kim của tháng Chín: Khí của tháng Chín, Thổ lệnh đương quyền, Kim khí nhập Suy, Thủy khí Quan Đới, nên Kim của tháng Chín Kỵ gặp Thổ vì có thể Thổ nhiều quá sẽ lấp mất Kim, Hỉ Mộc tiết khí Thổ, lại Hỉ Thủy tiết khí Kim, tối Kỵ gặp Thổ, và Kỵ Hỏa sinh Thổ.
10. Hành Kim của tháng Mười: Khí của tháng Mười, khí hậu biến hàn (lạnh), Kim khí vào Bệnh, Thủy khí Lâm Quan, nên Kim của tháng Mười nếu Thủy thịnh thì Kim sẽ bị chìm, Hỉ Thổ chế Thủy, Hỏa lại sưởi ấm Kim và trợ Thổ, cũng Hỉ Kim tỷ trợ.
11. Hành Kim của tháng Mười Một: Khí của tháng Mười Một, Thủy khí Đế Vượng, Kim khí đã Tử, nên Kim của tháng Mười Một ở vào mùa Đông hàn, bất Hỉ Thủy hàn, Hỉ Hỏa sưởi ấm Kim, nên dùng Mộc tiết khí Thủy và trợ Hỏa để sưởi ấm Kim, nếu Thủy quá vượng thì cần Thổ để ngăn Thủy.
12. Hành Kim của tháng Mười Hai: Khí của tháng Mười Hai, thiên hàn địa cống, Thổ lệnh lại đương quyền, Thổ ướt nhiều và dày, Thủy khí nhập Suy, Kim khí vào Mộ, nên Kim của tháng Mười Hai có thể bị Thổ ượt nhận chìm, Hỉ Hỏa giải lạnh và sưởi ấm Kim, Hỉ Mộc tiết khí Thổ và trợ Hỏa, Kỵ Kim hàn thủy lạnh.

Con tiep...




>Thân chào tất cả,
>
>Mong rằng bài viết này bổ ích được ít
>nhiều cho mọi người. Vì tơi muốn trước
>khi thu tàng để viết sach cho kip dip Tết, xin
>cống hiến để độc giả nghiền ngẩm.
>NHỮNG TINH TUÝ VỀ TỬ VI
>
>Trước đây tôi đang nghiên cứu để tìm
>ngày giờ chết của con người và Lưu Đại,
>Tiểu Vận để bổ túc những chỗ khiếm
>khuyết của Tử Vi, thì đã quen một người
>bạn người Việt gốc Hoa. Không biết kiếp
>trước anh có Duyên gì mà rất quý tài học
>của tôi (điều này chính miệng anh nói đã
>làm tôi ngượng cứng người), và lúc nào
>cũng nằn nặc để cùng tham cứu với tôi.
>Hôm qua tôi đến nhà anh, (khiến anh đã
>mừng quýnh quyếu và đã nói lên tâm trạng
>đó. Có lẽ vì anh đã chờ tôi từ lâu mà
>liên lạc với tôi không được, không ngờ
>hôm qua tôi lại vô cớ gọi anh). Anh có
>lòng hảo tâm muốn trao truyền những tinh
>túy về Tử Vi của những sách bằng chữ
>Hán cho tôi, nên anh và tôi đã cố gắng
>dịch ra tiếng Việt cho những người hậu
>học tham khảo. Tuy nhiên, vì tôn trọng ý
>kiến của tác giả nên chúng tôi gặp khó
>khăn ở chỗ là làm thế nào khi dịch vừa
>giữ được ý chính và chữ xài chính của
>tác giả mà vừa đơn giản, dễ hiểu để
>độc giả dễ thấu triệt. Do đó, nếu có
>gì thiếu sót xin quý vị thông cảm cho.
>
>Xin lưu ý độc giả một điều, dù bài
>luận về Hỉ, Kỵ Ngũ Hành của bốn Mùa và
>luận về cung của Đẩu Số rất hay, rất
>cao; song vẫn có nhiều điều khiếm khuyết,
>độc giả cần phải suy gẩm mới mong thấu
>triệt được! Vấn đề thiết yếu là nắm
>rõ vòng Tràng sinh (Sinh, Vượng, Tử, Tuyệt)
>của Ngũ Hành thì có thể suy diễn bất cứ
>Hành nào trong 12 cung một cách rõ ràng
>tường tận vậy. Chúng ta chỉ nên học theo
>cách lập luận, chứ đừng nên xem đây là
>công thức tuyệt đối! Bài này chỉ có giá
>trí với những người có tâm huyết, căn
>cơ, hoặc đam mê về Tử Vi mà thôi, còn
>ngược lại thì chỉ là mớ chữ nghĩa vô
>bổ. Đối với người căn cơ thì có thể
>lấy nó xài cho cả Tử Vi và Bát Tự, lại
>còn phát huy được nghĩa lý vô cùng vô
>tận, còn ngược lại thì chẳng biết trân
>quý nó, và dù có trân quý nó, cũng chỉ là
>để lên bàn thờ cho vui. (Đây chỉ mới là
>một phần rất nhỏ mà thôi)
>
>Tuy nhiên, từ khi học được nhiều sách
>của người Tàu mới hay người Việt mình
>sức học chẳng thấm vào đâu vì thiếu
>sách vỡ, thật là đau lòng cho người Việt
>Nam ta. Chúng ta chỉ học lại những cái Cổ
>Nhân để lại mà cũng không xong, đưng nói
>chi la phát minh ra cái gi mới lạ.
>
>LUẬN VỀ HỈ, KỴ NGŨ HÀNH CỦA BỐN MÙA
>
>A. Hành Mộc:
>1. Hành Mộc của tháng Giêng: Khí của tháng
>Giêng, mùa Xuân mới bắt đầu nên khí hàn
>lạnh vẫn còn, phải dùng Hỏa (lửa) để
>sưởi ấm khí Thủy (nước), để dưỡng
>căn cơ của Mộc non; có thể dùng Thổ nhưng
>không được quá nhiều, Kỵ nhất bị Kim
>làm tổn thường mầm non của Mộc.
>2. Mộc của tháng Hai: Khí của tháng Hai, khí
>lạnh bắt đầu diệu bớt nên có Hỏa là
>quý, thứ đến là Thủy, hoặc có thể dùng
>Thổ để điều tiết, Kỵ Kim khắc mầm non
>của Mộc.
>3. Mộc của tháng Ba: Khí của tháng Ba,
>Dương khí bắt đầu nóng nên cần phải có
>Thủy, nhưng Thủy, Hỏa cần phải dung hòa
>thích nghi. Nếu Mệnh trong lá số thiếu khí
>Hỏa, thì Hỉ Kim (mừng gặp được Kim);
>trên nguyên tắc Kỵ gặp Kim quá mạnh.
>4. Mộc của tháng Tư: Khí của tháng Tư, khí
>Hỏa bắt đầu vượng mà khí Mộc bắt
>đầu suy, nên Hỉ Thủy nhuận căn (mừng
>gặp Thủy để tưới nhuần gốc mộc), kỵ
>gặp nhiều Hỏa, nhưng bất hỉ táo Thổ
>(gặp đất khô không hay), nếu Thổ ướt
>thì vô hại. Mừng gặp được Kim để tạo
>thành nguồn nước (vì Kim sinh Thủy).
>5. Mộc của tháng Năm: Khí của tháng Năm,
>khí Hỏa cực thịnh gốc khô lá già, rất
>cần nhiều Thủy để dưỡng gốc (Mộc).
>Kỵ Hỏa vượng ví như tự thiêu mình, Thổ
>ít thì được, Thổ nhiều biến thành tai
>họa. Mừng gặp được Kim để tạo thành
>nguồn nước, nên Mộc của tháng Năm phải
>nghiêng về điều Hậu (điều tiết khí
>hậu).
>6. Mộc của tháng Sáu: Khí của tháng Sáu,
>Hỏa khí tuy suy nhưng khí nóng còn vượng,
>song Kim khí bắt đầu thịnh. Tiết (Tiểu
>Thử) của tháng Sáu Hoả (nhiệt), Thổ (khô)
>vẫn còn táo, nhiệt, Hỉ gặp Kim, Thủy
>(mừng gặp Kim, Thủy) để tưới nhuần
>đất (Thổ).
>7. Mộc của tháng Bảy: Khí của tháng Bảy,
>Hỏa khí còn rất ít, Kim thì đang vượng
>nhưng Mộc đã trưởng thành, phải dùng
>Dương Kim để gọt đẽo thành khí dụng.
>Tuy nhiên, Kỵ Kim quá mạnh, trường hợp
>nầy Hỉ gặp Hỏa (mừng gặp Hỏa để chế
>bớt Kim), nhưng tốt nhất gặp được Mộc
>để phụ Hỏa, Kỵ Thủy diệt Hỏa.
>8. Mộc của tháng Tám: Khí của tháng Tám,
>Âm Kim cực vượng, Hỏa khí đã chết, Kim
>vượng thì Mộc đã Suy, Hỉ Hỏa lại gặp
>Mộc, vì khí hậu bắt đầu hàn (lạnh) tối
>qúy có Hỏa điều thân (Mộc); nếu Mộc mà
>gặp Thủy sinh thì thành cường vượng (vì
>Kim sinh Thủy để Thủy sinh Mộc), Thủy,
>Mộc nhiều thì Hỉ Kim (mừng gặp Kim để
>chế bớt Mộc).
>9. Mộc của tháng Chín: Khí của tháng Chín,
>Hỏa khí đã nhập Mộ, Kim khí đến hồi
>suy, hàn (lạnh) nhiệt thì điều hòa thích
>nghi. Mộc của tháng chín đã tiêu tàn, khí
>Mộc lại yếu nên thích Hỉ Thủy sinh trợ,
>mà gặp thêm Mộc. Nếu Thủy sinh trợ đúng
>lúc, thì khả dĩ lấy Hỏa. Tối Kỵ Thổ
>Tinh khắc Thủy, lại Kỵ Kim quá mạnh.
>10. Mộc của tháng Mười: Khí của tháng
>Mười, Hỏa khí đã Tuyệt, Thủy khí Lâm
>Quan, Kim khí thì Bệnh, Mộc khí Tràng Sinh,
>nên Mộc cần nhất gặp Hỏa, và lấy Thổ
>ngăn Thủy là thượng sách.
>11. Mộc của tháng Mười Một: Khí của
>tháng Mười Một, Hỏa khí nhập Thai, Thủy
>khí thì Đế Vượng, Kim khí đã Tử, Mộc
>khí thì Mộc Dục, nên Hỉ gặp Hỏa, thứ
>đến là Kim, Thủy vượng thì Mộc bị úng,
>Hỉ gặp Thổ để ngăn Thủy.
>12. Mộc của tháng Mười Hai (ở cung Sửu):
>Khí của tháng Mười Hai, khí hậu rất hàn
>(lạnh), Mộc khí nhập Quan Đới, Kim khí
>nhập Mộ, Thủy và Thổ cực vượng, nên
>nhất định phải có Hỏa để giải tỏa
>hàn băng, thứ đến là Hỉ Kim, hoặc gặp
>Mộc cũng nên.
>
>con tiep

[ Next Thread | Previous Thread | Next Message | Previous Message ]


Replies:

  • Re: Nhung Tinh Tuy Ve Tu Vi -- Hoang Quy Son, 09:36:22 07/04/02 Thu
    [ Contact Forum Admin ]


    Forum timezone: GMT-8
    VF Version: 3.00b, ConfDB:
    Before posting please read our privacy policy.
    VoyForums(tm) is a Free Service from Voyager Info-Systems.
    Copyright © 1998-2019 Voyager Info-Systems. All Rights Reserved.