VoyForums
[ Show ]
Support VoyForums
[ Shrink ]
VoyForums Announcement: Programming and providing support for this service has been a labor of love since 1997. We are one of the few services online who values our users' privacy, and have never sold your information. We have even fought hard to defend your privacy in legal cases; however, we've done it with almost no financial support -- paying out of pocket to continue providing the service. Due to the issues imposed on us by advertisers, we also stopped hosting most ads on the forums many years ago. We hope you appreciate our efforts.

Show your support by donating any amount. (Note: We are still technically a for-profit company, so your contribution is not tax-deductible.) PayPal Acct: Feedback:

Donate to VoyForums (PayPal):

Login ] [ Contact Forum Admin ] [ Main index ] [ Post a new message ] [ Search | Check update time | Archives: 12[3]456789 ]


[ Next Thread | Previous Thread | Next Message | Previous Message ]

Date Posted: 09:36:22 07/04/02 Thu
Author: Hoang Quy Son
Author Host/IP: cs662549-52.houston.rr.com / 66.25.49.52
Subject: Re: Nhung Tinh Tuy Ve Tu Vi
In reply to: Hoang Quy Son 's message, "Nhung Tinh Tuy Ve Tu Vi" on 09:24:54 07/04/02 Thu

tiep theo...

E. HÀNH THỦY
1. Hành Thủy của tháng giêng: Khí Thủy của tháng Giêng, Mộc khí Lâm Quan, Thủy khí đã Bệnh, khí hàn lạnh vẫn còn, chưa hết, nên Thủy của tháng Giêng Hỉ Kim sinh phù, nhưng không thích Kim nhiều quá, nếu Thủy vượng thì cần Mộc mới huy nạp được thế, và cũng cần Hỏa để sưởi ấm Thủy, Hỉ Thổ chế Thủy vượng.
2. Hành Thủy của tháng Hai: Khí của tháng Hai, Mộc khí Đế Vượng, Thủy khí đã Tử, nên Thủy của tháng Hai, rất Hỉ gặp Kim để sinh Thủy và khắc chế Mộc, nếu Thủy vượng nên có Thổ để ngăn Thủy.
3. Hành Thủy của tháng Ba: Khí Thủy của tháng Ba, Thổ lệnh đương quyền, Mộc khí đã Suy, Thủy khí nhập Mộ, nên Thủy của tháng Ba hình thể khô dần, Hỉ Mộc tiết Thổ, và Kim là nguồn sinh, khí hậu vẫn còn hơi lạnh, Hỉ Hỏa sưởi ấm Thủy, lấy Mộc làm dụng thần, nếu Thủy ít thì cũng Hỉ Thủy đến tỷ trợ, Kim trợ sinh Thủy.
4. Hành Thủy của tháng Tư: Khí của tháng Tư, Hỏa khí Lâm Quan, Thủy khí đã Tuyệt, Kim khí Tràng Sinh, nên Thủy của tháng Tư đã gần Tuyệt, Hỉ Thủy tỷ trợ, và Kim lại trợ Thủy.
5. Hành Thủy của tháng Năm: Khí của tháng Năm, Hỏa khí Đế Vượng, Thủy khí vào Thai, Kim khí Mộc Dục, nên Thủy của tháng Năm Kỵ nhập táo, nhiệt chi hương, Hỉ Thủy tỷ trợ, và Kim là nguồn sinh.
6. Hành Thủy của tháng Sáu: Khí của tháng Sáu, Thổ lệnh đương quyền, Hỏa khí đã Suy, Kim khí Quan Đới, Thủy khí nhập Thai, nên Thủy của tháng Sáu Kỵ Thổ trọng ngăn Thủy, và Hỏa trợ Thổ táo, nhiệt, Hỉ Thủy tỷ trợ và Kim là nguồn sinh, Mộc đến tiết Thổ.
7. Hành Thủy của tháng Bảy: Khí của tháng Bảy, Kim khí Lâm Quan, Thủy khí Tràng Sinh, Hỏa khí nhập Bệnh, nên Thủy của tháng Bảy Kim vượng Thủy tướng, trong ngoài thông suốt, được Kim trợ Thủy thì thanh khiết, nếu gặp Thổ vượng thì Thủy bị vẩn đục, nếu Thủy đa Hỉ Mộc để tiết khí, cũng Hỉ Thổ để ngăn nước, và gặp được Hỏa.
8. Hành Thủy của tháng Tám: Khí của tháng Tám, Kim khí Đế Vượng, Thủy khí Mộc Dục, Hỏa khí vào Tử, nên Thủy của tháng Tám thế của Thủy bắt đầu vượng, Hỉ Mộc tiết thế của Thủy, Hỉ Hỏa khắc Kim hộ Mộc, đồng thời sưởi ấm Kim và Thủy.
9. Hành Thủy của tháng Chín: Khí của tháng Chín, Thổ lệnh đương quyền, Kim khí vào Suy, Thủy khí Quan Đới, nên Thủy của tháng Chín tuy Quan Dới nhưng, Qúy Thu Thổ vượng ngăn Thủy, nên Hỉ Mộc tiết Thổ, Kim lại sinh Thủy.
10. Hành Thủy của tháng Mười: Khí của tháng Mười, Thủy khí Lâm Quan, Kim khí vào Bệnh, khí hậu biến hàn (lạnh), nên Thủy của tháng Mười thế Thủy cực thịnh, Hỉ Hỏa để sưởi ấm, Mộc tiết kỳ thế, nếu Thủy vượng thì nhờ Thổ để ngăn Thủy.
11. Hành Thủy của tháng Mười Một: Khí của tháng Mười Một, Thủy khí Đế Vượng, Kim khí đã Tử, khí hậu cực hàn, nên Thủy của tháng Mười Một Thủy khí cường hàn (lạnh), Hỉ Hỏa sưởi ấm Thủy, Mộc tiết kỳ thế.
12. Hành Thủy của tháng Mười Hai: Khí của tháng Mười Hai, thiên hàn địa cống, Thủy khí đã Tuyệt, Thổ lệnh đương quyền, Mộc khí Quan Đới, nên Thủy của tháng Mười Hai vì Thổ trọng và lạnh (cống), Hỉ Hỏa sưởi ấm Thổ, Mộc lại tiết Thổ, nếu lấy Kim thì cũng cần Hỏa sưởi ấm Kim để sinh Thủy.

Chú Ý: Bài này dùng tháng để diễn giải khí của cung, tháng Giêng ở cung Dần chạy thuận 12 tháng đến cung Sửu là tháng 12. Tỷ như: Mệnh Thủy cung Mệnh ở Dần đành rằng Thủy ở Bệnh địa nhưng chưa hẳn là xấu. Nếu ở đó gặp Thủy của Cự Môn, Văn Khúc, lại được Hỏa của Thái Dương sưởi ấm, lại may gặp được Mộc của Tang Môn nữa là kỳ cách. Trường hợp Mệnh Thủy, Hỏa Cục mà ở cung Dần lại gặp Tử, Phủ (Thổ vượng địa), thì coi như Mệnh Thủy bế tắc, chỉ là người bình thường, tính tình hiền hòa, cẩn trọng, nhưng chẳng làm nên chuyện chi đại sự. Với cách luận giải nầy, ngày nay ta luận giải Tử Vi thấy khoa học và chính xác hơn so với Phú nhiều. Vả lại, những sách vở của Việt Nam xưa nay, chưa thấy ai hiểu về vấn đề nầy một cách tường tận cả.

Phần luận giải về cung của Đẩu Số dưới đây, phải công nhận rằng tác giả diễn giải rất cao và tương đối rõ ràng, trong khi tiền nhân ta hiếm có người bàn đến hoặc giải thích nổi, và dù có bàn đến thì cũng chỉ nói một cách mơ hồ, thiếu khoa học. Mặc dù có nhiều điểm tôi không hoàn toàn đồng ý, song vì tôn trọng nguyên bản nên tôi vẫn giữ nguyên ý. (Sách này của người đã nghiên cứu tử vi trên 20 năm, và được gia truyền, nay chỉ mới ngoài 30 tuổi). Mong rằng độc giả tham khảo và rút tỉa những cái hay, đừng cho rằng đây là điều tuyệt đối. Những loại sách này chúng tôi còn rất nhiều nhưng chưa phải lúc để biểu diễn ma thôi.

CHÚ GIẢI VÀ LUẬN VỀ CUNG CỦA ĐẨU SỐ:

1. DẦN: là cung của Mộc, đúng lúc Tam Dương giao thái, thảo mộc manh nha (nẩy mầm), tới cung Mão thì Mộc càn vượng, Tham Lang, Thiên Cơ là miếu địa, nên được Thủy của Thiên Tướng tới cung Dần là vượng Tướng, Thủy của Cự Môn đến Mão là để sơ thông.
Tại sao cung Dần là cung của Mộc, và tại sao Thủy của Thiên Tướng đến Dần là vượng Tướng?
Mộc Hành Tràng Sinh ở Hợi, thuận Hành là Mộc Dục ở Tí, Quan Đới ở Sửu, Lâm Quan ở Dần, nên Lâm Quan là vị trí của Lộc Tồn, đúng là trong trạng thái bình hòa vững chắc, nên nói Dần là cung của Mộc, Mộc tại sửu vẫn còn hàn lạnh khí trọng, không nơi manh nha chi địa.
Dần là ở sau Lập Xuân, giá lạnh được ánh sáng mặt trời sưởi ấm giải đi, Mộc được Thủy khí sơ Xuân tứới nhuần, nên được sinh trưởng. Nhưng Mộc của sơ Xuân là mộc non, Kỵ Kim lại khắc. Nên cung Dân Văn Xương (Kim) đơn thủ, được gọi là không đắc vị, do đó cổ thư nói “Văn Xương tại Dần là thất hãm”. Chú ý: so với các Chính Tinh miếu, vượng, đắc, hãm, Văn Xương hãm ở đây quan trọng hơn. Văn Xương mà bị hãm thì ý nghĩa của các Chính Tinh dù có đẹp cũng chẳng được phát huy, bất lợi cho công chức, khoa giáp. Vì Dần là cung của Mộc, Thiên Tướng (Thủy) tại cung Dần nhất định đi cùng Vũ Khúc nên được Kim của Vũ Khúc trợ phát Thủy của Thiên Tướng. Cung Dần là cung của Mộc được Thủy của Thiên Tướng nhập cung, càng được vượng tướng. Nhưng nếu được Thủy của Văn Khúc và Thủy của Thiên Tướng thì cung Dần Thủy thế rất lớn, vì có Chính Diệu tương sinh nên quá vượng trở thành lụt, không cát.
2. MÃO: Mộc cực vượng nên Tham Lang, Thiên Cơ miếu địa. Lý do Mộc Đế Vượng tại Mão, nên ở cung Mão Mộc được Nguyệt lệnh, khí của Mộc cực vượng, nhưng cung Mão là nơi Thổ Tử nên các Sao Thổ ở Mão là hãm. Tỷ như: Tử Vi (Thổ), Thiên Phủ (Thổ), Lộc Tồn (Thổ) mà đơn thủ ở Mão là hãm địa. Lại Tử Vi (Thổ) đồng cung với Tham Lang (Mộc) thì Tử Vi bị Tham Lang nịnh thần; Tham Lang, Đào Hoa khắc Tử Vi đế tinh, nên vua bị nịnh thần khắc, nghĩa là dưới mà phạm thượng, như Lục Luân đại loạn, quân không ra quân thần không ra thần... Nhưng ở đây nếu Tử Tham nhập Mệnh thì nên xem Ngũ Hành, Hỉ, Kỵ như thế nào, nếu Hỉ Thần là Thổ thì phạm Đào Hoa nên lời nói không thật, chẳng phải là người nghĩa tín; nếu Hỉ Thần là Mộc thì đương số nên Kinh Doanh, nhưng rất thích mạo hiễm, là loại đầu cơ tích trử. Nếu Tử Tham ở đây gặp Hỏa, Linh thì gọi là “biến cách”, lại trở thành Đế vượng tinh, nên Tử Vi (Thổ) là Đế quân thật, không phải là Lục Luân đại loạn, tướng mạo trang nghiêm và phúc hậu.
- Thiên Cơ tại Mão đi chung với Cự Môn Thủy, Thiên Cơ Mộc miếu địa được Thủy của Cự Môn tiếp sức nên được vượng thế nên đặc tính của Thiên Cơ Mộc được phát huy, nhưng có mòi quá vượng lại được Lộc Tồn (Thổ) hoặc Tả Phù (Thổ) để tiết khí Mộc, và chế Cự Môn Thủy thì sẽ trường tồn. Nếu Mệnh, Thân được Mộc là Hỉ Thần thì thành tài cát, là người đại kinh doanh. Nên chi cổ thư thường nói: “Thiên Cơ, Cự Môn đồng cung, Hỉ gặp Tả, Hữu hoặc Lộc Tồn”, nhưng Hữu Bật (Thủy) ở đây giúp cho Mộc càng vượng là không tốt, có lẽ những người sau không thấu triệt nên đã viết lầm vì nghĩ có Tả thì phải có Hữu. Cổ thư lại nói: “Cự Cơ đồng cung Kỵ gặp Xương, Khúc”; có nghĩa là Thủy của Văn Khúc giúp cho thế của Mộc qúa vượng nên cũng không hay! Nhưng Văn Khúc cát hung lẫn lộn. Vì tại cung Mão còn sao Vũ Sát, Thiên Phủ, Nhật Lương, Liêm Phá, Thiên Tướng, Thiên Đồng, Nguyệt là cát Tinh.








>Thân chào tất cả,
>
>Mong rằng bài viết này bổ ích được ít
>nhiều cho mọi người. Vì tơi muốn trước
>khi thu tàng để viết sach cho kip dip Tết, xin
>cống hiến để độc giả nghiền ngẩm.
>NHỮNG TINH TUÝ VỀ TỬ VI
>
>Trước đây tôi đang nghiên cứu để tìm
>ngày giờ chết của con người và Lưu Đại,
>Tiểu Vận để bổ túc những chỗ khiếm
>khuyết của Tử Vi, thì đã quen một người
>bạn người Việt gốc Hoa. Không biết kiếp
>trước anh có Duyên gì mà rất quý tài học
>của tôi (điều này chính miệng anh nói đã
>làm tôi ngượng cứng người), và lúc nào
>cũng nằn nặc để cùng tham cứu với tôi.
>Hôm qua tôi đến nhà anh, (khiến anh đã
>mừng quýnh quyếu và đã nói lên tâm trạng
>đó. Có lẽ vì anh đã chờ tôi từ lâu mà
>liên lạc với tôi không được, không ngờ
>hôm qua tôi lại vô cớ gọi anh). Anh có
>lòng hảo tâm muốn trao truyền những tinh
>túy về Tử Vi của những sách bằng chữ
>Hán cho tôi, nên anh và tôi đã cố gắng
>dịch ra tiếng Việt cho những người hậu
>học tham khảo. Tuy nhiên, vì tôn trọng ý
>kiến của tác giả nên chúng tôi gặp khó
>khăn ở chỗ là làm thế nào khi dịch vừa
>giữ được ý chính và chữ xài chính của
>tác giả mà vừa đơn giản, dễ hiểu để
>độc giả dễ thấu triệt. Do đó, nếu có
>gì thiếu sót xin quý vị thông cảm cho.
>
>Xin lưu ý độc giả một điều, dù bài
>luận về Hỉ, Kỵ Ngũ Hành của bốn Mùa và
>luận về cung của Đẩu Số rất hay, rất
>cao; song vẫn có nhiều điều khiếm khuyết,
>độc giả cần phải suy gẩm mới mong thấu
>triệt được! Vấn đề thiết yếu là nắm
>rõ vòng Tràng sinh (Sinh, Vượng, Tử, Tuyệt)
>của Ngũ Hành thì có thể suy diễn bất cứ
>Hành nào trong 12 cung một cách rõ ràng
>tường tận vậy. Chúng ta chỉ nên học theo
>cách lập luận, chứ đừng nên xem đây là
>công thức tuyệt đối! Bài này chỉ có giá
>trí với những người có tâm huyết, căn
>cơ, hoặc đam mê về Tử Vi mà thôi, còn
>ngược lại thì chỉ là mớ chữ nghĩa vô
>bổ. Đối với người căn cơ thì có thể
>lấy nó xài cho cả Tử Vi và Bát Tự, lại
>còn phát huy được nghĩa lý vô cùng vô
>tận, còn ngược lại thì chẳng biết trân
>quý nó, và dù có trân quý nó, cũng chỉ là
>để lên bàn thờ cho vui. (Đây chỉ mới là
>một phần rất nhỏ mà thôi)
>
>Tuy nhiên, từ khi học được nhiều sách
>của người Tàu mới hay người Việt mình
>sức học chẳng thấm vào đâu vì thiếu
>sách vỡ, thật là đau lòng cho người Việt
>Nam ta. Chúng ta chỉ học lại những cái Cổ
>Nhân để lại mà cũng không xong, đưng nói
>chi la phát minh ra cái gi mới lạ.
>
>LUẬN VỀ HỈ, KỴ NGŨ HÀNH CỦA BỐN MÙA
>
>A. Hành Mộc:
>1. Hành Mộc của tháng Giêng: Khí của tháng
>Giêng, mùa Xuân mới bắt đầu nên khí hàn
>lạnh vẫn còn, phải dùng Hỏa (lửa) để
>sưởi ấm khí Thủy (nước), để dưỡng
>căn cơ của Mộc non; có thể dùng Thổ nhưng
>không được quá nhiều, Kỵ nhất bị Kim
>làm tổn thường mầm non của Mộc.
>2. Mộc của tháng Hai: Khí của tháng Hai, khí
>lạnh bắt đầu diệu bớt nên có Hỏa là
>quý, thứ đến là Thủy, hoặc có thể dùng
>Thổ để điều tiết, Kỵ Kim khắc mầm non
>của Mộc.
>3. Mộc của tháng Ba: Khí của tháng Ba,
>Dương khí bắt đầu nóng nên cần phải có
>Thủy, nhưng Thủy, Hỏa cần phải dung hòa
>thích nghi. Nếu Mệnh trong lá số thiếu khí
>Hỏa, thì Hỉ Kim (mừng gặp được Kim);
>trên nguyên tắc Kỵ gặp Kim quá mạnh.
>4. Mộc của tháng Tư: Khí của tháng Tư, khí
>Hỏa bắt đầu vượng mà khí Mộc bắt
>đầu suy, nên Hỉ Thủy nhuận căn (mừng
>gặp Thủy để tưới nhuần gốc mộc), kỵ
>gặp nhiều Hỏa, nhưng bất hỉ táo Thổ
>(gặp đất khô không hay), nếu Thổ ướt
>thì vô hại. Mừng gặp được Kim để tạo
>thành nguồn nước (vì Kim sinh Thủy).
>5. Mộc của tháng Năm: Khí của tháng Năm,
>khí Hỏa cực thịnh gốc khô lá già, rất
>cần nhiều Thủy để dưỡng gốc (Mộc).
>Kỵ Hỏa vượng ví như tự thiêu mình, Thổ
>ít thì được, Thổ nhiều biến thành tai
>họa. Mừng gặp được Kim để tạo thành
>nguồn nước, nên Mộc của tháng Năm phải
>nghiêng về điều Hậu (điều tiết khí
>hậu).
>6. Mộc của tháng Sáu: Khí của tháng Sáu,
>Hỏa khí tuy suy nhưng khí nóng còn vượng,
>song Kim khí bắt đầu thịnh. Tiết (Tiểu
>Thử) của tháng Sáu Hoả (nhiệt), Thổ (khô)
>vẫn còn táo, nhiệt, Hỉ gặp Kim, Thủy
>(mừng gặp Kim, Thủy) để tưới nhuần
>đất (Thổ).
>7. Mộc của tháng Bảy: Khí của tháng Bảy,
>Hỏa khí còn rất ít, Kim thì đang vượng
>nhưng Mộc đã trưởng thành, phải dùng
>Dương Kim để gọt đẽo thành khí dụng.
>Tuy nhiên, Kỵ Kim quá mạnh, trường hợp
>nầy Hỉ gặp Hỏa (mừng gặp Hỏa để chế
>bớt Kim), nhưng tốt nhất gặp được Mộc
>để phụ Hỏa, Kỵ Thủy diệt Hỏa.
>8. Mộc của tháng Tám: Khí của tháng Tám,
>Âm Kim cực vượng, Hỏa khí đã chết, Kim
>vượng thì Mộc đã Suy, Hỉ Hỏa lại gặp
>Mộc, vì khí hậu bắt đầu hàn (lạnh) tối
>qúy có Hỏa điều thân (Mộc); nếu Mộc mà
>gặp Thủy sinh thì thành cường vượng (vì
>Kim sinh Thủy để Thủy sinh Mộc), Thủy,
>Mộc nhiều thì Hỉ Kim (mừng gặp Kim để
>chế bớt Mộc).
>9. Mộc của tháng Chín: Khí của tháng Chín,
>Hỏa khí đã nhập Mộ, Kim khí đến hồi
>suy, hàn (lạnh) nhiệt thì điều hòa thích
>nghi. Mộc của tháng chín đã tiêu tàn, khí
>Mộc lại yếu nên thích Hỉ Thủy sinh trợ,
>mà gặp thêm Mộc. Nếu Thủy sinh trợ đúng
>lúc, thì khả dĩ lấy Hỏa. Tối Kỵ Thổ
>Tinh khắc Thủy, lại Kỵ Kim quá mạnh.
>10. Mộc của tháng Mười: Khí của tháng
>Mười, Hỏa khí đã Tuyệt, Thủy khí Lâm
>Quan, Kim khí thì Bệnh, Mộc khí Tràng Sinh,
>nên Mộc cần nhất gặp Hỏa, và lấy Thổ
>ngăn Thủy là thượng sách.
>11. Mộc của tháng Mười Một: Khí của
>tháng Mười Một, Hỏa khí nhập Thai, Thủy
>khí thì Đế Vượng, Kim khí đã Tử, Mộc
>khí thì Mộc Dục, nên Hỉ gặp Hỏa, thứ
>đến là Kim, Thủy vượng thì Mộc bị úng,
>Hỉ gặp Thổ để ngăn Thủy.
>12. Mộc của tháng Mười Hai (ở cung Sửu):
>Khí của tháng Mười Hai, khí hậu rất hàn
>(lạnh), Mộc khí nhập Quan Đới, Kim khí
>nhập Mộ, Thủy và Thổ cực vượng, nên
>nhất định phải có Hỏa để giải tỏa
>hàn băng, thứ đến là Hỉ Kim, hoặc gặp
>Mộc cũng nên.
>
>con tiep

[ Next Thread | Previous Thread | Next Message | Previous Message ]


Replies:

  • Re: Nhung Tinh Tuy Ve Tu Vi -- Hoang Quy Son, 09:39:05 07/04/02 Thu
    [ Contact Forum Admin ]


    Forum timezone: GMT-8
    VF Version: 3.00b, ConfDB:
    Before posting please read our privacy policy.
    VoyForums(tm) is a Free Service from Voyager Info-Systems.
    Copyright © 1998-2019 Voyager Info-Systems. All Rights Reserved.