Subject: GAY: BẨM SINH, TÂM-SINH LƯ, VÀ TRÁCH NHIỆM (Phần 2) |
Author:
Angel posted
|
[
Next Thread |
Previous Thread |
Next Message |
Previous Message
]
Date Posted: Sat, May 07 2005, 23:42:40
In reply to:
Angel posted
's message, "GAY: BẨM SINH, TÂM-SINH LƯ, VÀ TRÁCH NHIỆM" on Sat, May 07 2005, 23:40:55
talawas 4.5.2005
Lê Trần Huy Phú
GAY: BẨM SINH, TÂM-SINH LƯ, VÀ TRÁCH NHIỆM (Phần 2)
http://talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4424&rb=0503
(Vào địa chỉ trên đọc trực tiếp sẽ rơ hơn những chỗ được tác giả nhấn mạnh và có các hyperlinks dẫn đến các tài liệu/ bài được đề cập)
Một lần nữa, cũng như môi trường, và trong bối cảnh của môi trường, lựa chọn chỉ giữ vai tṛ phái sinh so với vai tṛ chủ sinh của yếu tố tự nhiên trong việc định h́nh thiên hướng t́nh cảm giới tính. Lựa chọn chỉ là lựa chọn về mặt xă hội, trong bối cảnh tồn tại về mặt xă hội, chứ không thể là lựa chọn về mặt tự nhiên và tồn tại một cách bẩm sinh.
Nếu chỉ có lựa chọn mà không phải là tính quyết định nơi tự nhiên, không có một người dị tính nào lại điên rồ để tự biến ḿnh - thông qua chọn lựa - thành người đồng tính hay lưỡng tính, khi mà điều đó gắn liền với đầy dẫy những bất trắc trong quan hệ xă hội và uẩn ức về mặt tâm lư trước sức ép đó. Nếu chỉ có lựa chọn mà không phải là tự nhiên, không một người đồng tính luyến ái nào lại điên rồ đến mức không lựa chọn việc thoát khỏi t́nh cảnh “ngang trái” xă hội và hệ lụy “đạo đức” của ḿnh. Và nếu chỉ có lựa chọn mà không phải tồn tại một cơ chế tự nhiên-bẩm sinh liên quan đến đồng tính luyến ái, th́ khi đó không có cả đến khái niệm này lẫn khái niệm dị tính luyến ái, v́ tất cả chỉ nhất nhất thuần nhất một thiên hướng tính dục th́ cần ǵ đến khái niệm đối lập của nó.
Chắc hẳn là mỗi một người đồng tính luyến ái, trước định kiến xă hội, đều có ít nhất một lần phải đối mặt với chọn lựa, cho dù là có ư thức về điều đó hay không. Đó là vào lúc mà họ rơi vào trạng thái đồng tính lệch kỷ (ego-dystonic homosexuality), được Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ định nghĩa là t́nh trạng của “những người mà quan tâm tính dục nguyên thủy của họ hướng về người cùng giới, nhưng hoặc bất an, hoặc xung đột, hoặc muốn thay đổi thiên hướng tính dục đó.”
Với tinh thần bất khoan dung người ta sẽ, bằng cách này hay cách khác, trên b́nh diện xă hội, buộc người đồng tính luyến ái phải “chọn lựa” theo cách chọn lựa mà định kiến xă hội đă chọn sẵn cho họ. Cùng với những biện phát xuất phát từ quan điểm “môi trường”, những người này đưa ra những biện phát xuất từ quan điểm “lựa chọn”. Họ xem luyến ái đồng giới chỉ là một lối sống lệch lạc được chọn lựa. Họ đưa ra liệu pháp để chữa trị “chứng bệnh” đồng tính như là một chọn lựa thay thế cho chọn lựa lệch lạc đó, “hoán cải” đồng tính trở thành dị tính. Cũng chính Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ, bằng thẩm quyền khoa học của ḿnh, đă lại một lần nữa đi đầu, đưa ra tiếng nói quyết định, bác bỏ sự “lựa chọn” này…
Trở lại với một nhận định mang tính kết luận của NHĐ ở nội dung “không bẩm sinh”. Người đồng tính luyến ái không phải “đổ lỗi” cho bản chất bẩm sinh để rồi khước từ “cuộc sống của một người đàn ông b́nh thường” cho ḿnh, như NHĐ nói; mà chính những người bảo thủ và định kiến của xă hội đă khước từ điều bẩm sinh trong họ, khước từ sự lựa chọn tự nhiên của họ, và khước từ xem cuộc sống của họ là cuộc sống b́nh thường. Với quan niệm rằng người đồng tính luyến ái là người bất b́nh thường - điều vốn đă bị các tổ chức khoa học có thẩm quyền bác bỏ từ lâu - ngay từ đầu, ngay từ trong gốc, tác giả của bài viết đang được đề cập trên VnExpress đă thể hiện cách tiếp cận hoàn toàn xưa cũ và bảo thủ, hoặc của những người chủ trương bài gay, hoặc của những người thiếu hiểu biết nhưng thừa định kiến, dù là do quan niệm chung của xă hội hoặc của những gay “đồng tính lệch kỷ” cứ măi sống trong sự tự ti.
2. Tâm lư và sinh lư
Bằng nhận thức kinh nghiệm, tôi cũng đồng ư với sự phân chia cơ bản đă được người khác nói đến, là trong số những người đồng tính luyến ái có male-gay và female-gay, male-lesbian và female-lesbian. Rồi bốn “loại h́nh” này lại có sự phân chia gắn với h́nh thể hay tính cách. Cơ chế nào để định h́nh sự khác biệt này là điều vẫn chưa được khám phá.
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng như bao khía cạnh khác, do sự “đặc biệt” ở người đồng tính luyến ái, có những điều họ “được” tập chú vào và trở thành đặc biệt, trong khi những điều tương tự đó ở người dị tính th́ được coi như b́nh thường và không biến thành cái tổng thể. Ở đây cũng vậy. Người dị tính ái có những người có khuôn mặt mang nét nữ tính hay không, có người có bộ khung h́nh thể như nữ giới (mảnh khảnh, vai hẹp, tướng đi…) hay không? Có. Người dị tính ái có người giữ vị thế yếu hơn trong quan hệ nam - nữ, gia đ́nh hay không, có người mang “tính đàn bà” hay không? Có. Thế nhưng ta không thấy có sự phân chia thành male-straight và female-straight. Ngay từ đây đă là cái gốc bất b́nh đẳng trong việc “phân loại“ rồi.
Thứ nhất, qui kết những đặc điểm h́nh thể hay tâm lư, tính nết của một bộ phận người đồng tính, hơn nữa là những nét được cho là “đàn bà”, thiếu nam tính, là “chụp mũ tâm lư”. Cụ thể, trong bài của NHĐ đă triển khai rằng do không có phụ nữ bên cạnh, người nam đồng tính ái sẽ mất đi “bản tính ga lăng, xốc vác, tinh thần trách nhiệm, tính khí mạnh mẽ, chở che và đùm bọc cho người khác”. Đó sẽ là sự xuyên tạc quá trắng trợn nếu xem như đặc trưng tính cách của người đồng tính ái. Một người có phụ nữ bên cạnh, tức dị tính ái, th́ đương nhiên có sự quan tâm, xông xáo, trách nhiệm, mạnh mẽ, cao thượng, chính trực, nhân ái ư? Sai lầm. Những ai chỉ biết sống cho riêng ḿnh, không có trách nhiệm với bất cứ ai, thờ ơ trước các vấn đề xă hội, hèn yếu, dựa dẫm, thấp hèn, tị hiềm, ngu xuẩn…, th́ đương nhiên có ở bản tính và từ môi trường giáo dục, xă hội của họ, dù người đó là dị tính hay đồng tính, dù là nam hay nữ.
Thứ hai, tôi hoàn toàn đồng ư rằng người gay không được đánh mất bản ngă (giới tính) của ḿnh, không được quên ḿnh là đàn ông, v́ quả thật một bộ phận gay thích thể hiện, cư xử, xưng hô kiểu “chị em”. Nhưng ở bộ phận này, có nhóm là do không thoả măn với giới tính của ḿnh, có nhóm thể hiện điều đó như một sự phản kháng vô thức trước áp lực xă hội, có nhóm lại là nạn nhân của chính sự “dán nhăn” nữ tính mà cách nh́n bảo thủ, sai lầm đă dán lên họ. Thế nhưng bản thân việc cho rằng nam giới (dị tính) gắn với những nét tâm lư, tính cách tốt, “nam tính”, những điều mà được cho là không có ở gay và phụ nữ, đă là cách nh́n đứng trên lập trường gia trưởng, “nam hệ” đầy lạc hậu, và đă là biểu hiện của cách nh́n bài gay.
Thứ ba, t́nh yêu có ngôn ngữ của riêng nó, không thể xét đoán bằng logic và bằng cái đầu lạnh. Một khi đă là t́nh yêu, tại sao lại không cho phép người đồng tính ái cư xử với nhau bằng chính những cung bậc sinh động của t́nh yêu. Phụ nữ và gay th́ mới “giận hờn, đau khổ, cô đơn, khóc lóc, van nài t́nh yêu, ghen tuông...” (và được xem là không tốt), c̣n đàn ông dị tính th́ hoàn toàn không như thế à? Mỗi người yêu theo mỗi cách khác nhau. Mỗi người thể hiện giận hờn hay ghen tuông theo những cách khác nhau, dù nam hay nữ. Người đồng tính hay dị tính, mỗi người có cách riêng của ḿnh, nhưng đều vậy. Và nếu cho rằng nam giới không thể hiện t́nh yêu của ḿnh như thế, th́ có lẽ t́nh yêu chỉ c̣n trơ lại là t́nh bạn và t́nh dục mà thôi.
Về vấn đề sinh lư, thứ nhất, tâm lư thay đổi dẫn đến sinh lư thay đổi, điều này đúng, nhưng đó là một đặc tính bệnh học chung có ở mọi người, và sinh lư ở đây là được hiểu theo nghĩa y-sinh học. Tuy nhiên, nói “sinh lư”, trong ngôn ngữ thường ngày của người Việt, c̣n thường được ám chỉ đến quan hệ t́nh dục. Khi nói quan hệ tâm lư - sinh lư ở người đồng tính luyến ái có lẽ người ta cũng muốn nói đến chuyện đó.
Do vậy, thứ hai, cho rằng từ chỗ “hoang tưởng là gay” dẫn đến thay đổi tâm lư, và kết quả là sinh lư biến đổi, chính là lại một lần nữa phớt lờ yếu tố sinh học nơi người đồng tính luyến ái, vốn giữ vai tṛ quyết định; lại viện dẫn đến cái “tưởng tượng” mơ hồ nào đó. Trừ trường hợp “gay (do) t́nh thế”, “gay (do) môi trường”, chiều đi từ tâm lư đến sinh lư không phải là chiều quyết định ở người đồng tính luyến ái, mà bản thân hai yếu tố này đă hợp nhất làm một: tâm-sinh lư, và nếu có chiều tác động nào đó, th́ chiều đi từ sinh lư đến tâm lư phải là chiều đi trước, do tính qui định tự nhiên.
Thứ ba, NHĐ có nói đến “sự hấp dẫn vô cùng của thế giới gay” mà người đồng tính luyến ái không “can đảm từ bỏ nó dễ dàng”. Một là, đời sống của người đồng tính luyến ái là hấp dẫn vô cùng hay gian khó vô cùng trước định kiến xă hội để mà chọn lựa? Hai là, phải chăng sự hấp dẫn này được ám chỉ đến đời sống t́nh dục của người đồng tính luyến ái, mà trong đó quả là có rất nhiều người hết sức phóng túng: sống bằng t́nh dục mà không có t́nh yêu, nhiều bạn t́nh cùng lúc, thay đổi bạn t́nh nhanh chóng, và những hành vi t́nh dục khác nữa? Nếu vậy, xin lưu ư một lần nữa rằng, ngoài chuyện không có hệ quả sinh sản, mọi thái độ và hành vi t́nh dục như vừa nói đều hoàn toàn có ở người dị tính ái, nhưng người ta lại thích xuề x̣a, không khái quát lên thành đặc trưng của tính dục dị giới, trong khi đó mới là lực lượng chủ lực của tính dục xă hội. Ba là, khi tiếp cận đến người đồng tính luyến ái, người ta thường chỉ có thể quan sát “đại trà” những người gay sống trong cộng đồng, tức những người công khai hay bán công khai giao du trong “thế giới gay”, mà không, hay rất khó đến với những người nằm ngoài cộng đồng, vốn là tảng băng ch́m so với thành phần kia. Cho nên không thể qui kết những hành vi t́nh cảm, t́nh dục được cho là không tốt nào đó của bộ phận này lên thành đặc trưng của luyến ái đồng giới. Điều đó là “chụp mũ về sinh lư”, là hoàn toàn bất công.
3. Sinh tồn và gia đ́nh, trách nhiệm và ư nghĩa cuộc đời
Từ sinh lư - t́nh dục, vấn đề được đẩy đến mặt xă hội liên quan trực tiếp đến nó: sinh tồn và gia đ́nh.
Đúng là xă hội loài người, lịch sử xă hội loài người, cũng như mọi động vật, cây cỏ khác luôn tiếp nối, trước hết chính là từ sinh sản, duy tŕ ṇi giống. Đúng là là chức năng của giống đực là truyền giống. Nhưng phải chăng truyền giống là lư do tuyệt đối và nhất thiết mà nam giới (đồng tính ái) dứt khoát phải thực hiện để duy tŕ sinh tồn và sống cuộc đời có ư nghĩa?
Trong một cuộc tranh luận tại BBC, tôi từng thấy có câu hỏi rằng: Where same sex marriage starts is where human race ends? Câu hỏi này cũng tương tự như ư kiến cho rằng đồng tính luyến ái làm suy yếu và kết thúc giống ṇi. Tôi cũng thấy có lời đáp rằng: làm một phép tính xác suất đơn giản nhất cũng có câu trả lời, điều đó chỉ có thể xảy ra khi nào 100% nam giới và 100% nữ giới ở tất cả các dân tộc và cùng trong một thời điểm đều có t́nh cảm đồng giới; mà cho dù có “kịch bản” như vậy xảy ra th́ nhân loại lúc đó cũng biết tự điều tiết bằng những biện pháp khác nhau để có sự liên tục thế hệ. Ư kiến của cả hai phía đều có vẻ ǵ đó đơn giản, nhưng thực tế cả câu hỏi “lạnh gáy” và đầy sức nặng đó, cũng như sự tính toán thẳng thắn đáp lại nó, lại phản ánh những thực tế rất hiển nhiên.
Với những người bài gay, họ sử dụng đạo lư sinh tồn như một vũ khí tối hậu, động viên được t́nh cảm ḍng giống để chống luyến ái đồng giới, với lư lẽ hiển nhiên không thể sai về sự bất diệt của loài. Chỉ có điều nó ẩn chứa một sự áp đặt mà không cần nhiều tinh ư cũng nhận ra: áp đặt một nguy cơ không bao giờ xảy ra đối với loài người, một nguy cơ được cho là xuất phát từ người đồng tính ái.
Nguy cơ diệt vong của loài người th́ có đó, và nhiều nữa là khác: vũ khí hạt nhân, môi trường sống, dịch bệnh toàn cầu, chiến tranh hay biến đổi sinh học từ ngoài không gian đem vào, va chạm trong vũ trụ, v.v… Những nguy cơ này xem ra c̣n hiện thực hơn nhiều so với nguy cơ đến từ luyến ái đồng giới, v́ một lẽ rất đơn giản, họ chỉ là nhóm thiểu số trong xă hội. Trong lịch sử, hiện nay, và cả mai sau, họ luôn và chỉ luôn là những người thiểu số, nên không thể bị qui trách nhiệm cho sự mai một của dân số. Trên lư thuyết là vậy, c̣n trên thực tế th́ sao? Mỉa mai thay cho ư tưởng về sự tận diệt của con người nếu thừa nhận sự b́nh đẳng hoàn toàn của luyến ái đồng giới, khi mà đồng tính luyến ái thời nào cũng có, đâu đâu cũng có, nhưng số đầu người trên hành tinh này chỉ có luôn tăng lên chứ không hề giảm sút, cho dù thiên tai, dịch bệnh và chiến tranh diễn ra liên miên từ khi có loài người đến nay, là những điều mà đă, đang và sẽ c̣n tàn sát trên diện rộng, tức thời, và với số lượng lớn đối với những con người hiện hữu, chứ không phải là từ một thiểu số người đồng tính luyến ái, v́ sống thật với t́nh cảm của ḿnh mà làm “mất” đi một lượng nhân khẩu vốn chỉ c̣n trong giả định nào đó.
Ở đây sẽ nảy sinh vấn đề về đạo lư sinh tồn được những người bài gay xem như đạo lư tối hậu: phải chăng đó chính là đạo lư tối hậu của con người trong đời sống xă hội, của việc hành xử xă hội đối với các thiên hướng tính dục?
Xét trong quan hệ loài của loài người với các loài khác trên mặt đất và trong vũ trụ, xét trong toàn bộ tiến tŕnh của loài người từ khi khai sinh cho đến chừng nào mà nó cùng tồn tại, th́ sinh tồn là điều kiện tiên quyết, có sinh tồn th́ mới có lịch sử, có xă hội, có sự khác biệt giữa loài người với loài khác. Con người có tồn tại với một phạm vi rộng lớn khi so với toàn bộ các loài, so với toàn thể vũ trụ, so với toàn thể lịch sử như vậy không? Có, nhưng chỉ “có” theo nghĩa con người trừu tượng, con người khái niệm, con người khái quát hóa, chứ không phải ở những con người hiện thực, cụ thể. Điều đó có nghĩa là loài người th́ trực tiếp gắn với vấn đề sinh tồn, c̣n con người (cụ thể) th́ trực tiếp gắn với xă hội và các quan hệ.
Và c̣n một điều nữa, sinh tồn phải chăng là một đạo lư hay trước hết chỉ là một vấn đề tự nhiên, tuần tự của sự phát triển giống loài? Loài vật không hề có một đạo lư nào, nó không cần ǵ đến đạo lư sinh tồn nhưng vẫn tự nhiên tồn tại hết đời này sang đời khác (trừ khi bị tiệt chủng bởi tự nhiên hay bởi con người) mà không hề có một bộ phận thú dị tính này đ̣i hỏi nhóm thú đồng tính kia phải tôn trọng đạo lư sinh tồn. Người ta có thể nói con người khác con vật. Đúng. Nhưng đạo lư sinh tồn được đặt ra và xem như quyết định khi mà loài người chưa bao giờ, và đang không hề, đứng trước một nguy cơ tuyệt chủng (ngược lại, đang bành trướng ngoài khả năng đáp ứng cho chính sự bành trướng đó th́ có) để áp đặt đạo lư đó lên một bộ phận người, liệu có đúng với đạo lư và hợp lư hay không? Vấn đề của con người xă hội (mà không phải là con người giống loài) là ở cái đạo lư hành xử giữa con người với nhau, chứ không phải ở cái đạo lư mà vốn tự nhiên chẳng có ǵ tổn hại đến nó, mà nó cũng chẳng tác động đến ai (ngoài chuyện nó được dùng để tác động lên luyến ái đồng giới).
Chính do điều cốt yếu nằm ở đạo lư của con người với nhau chứ không phải ở đạo lư sinh tồn, mà trong các học thuyết xă hội và học thuyết chính trị, cái đạo lư tối hậu được nói đến - tức một nguyên tắc hành xử xă hội gốc làm nền tảng nào đó mà các nguyên tắc khác có thể qui chiếu vào để xét tính chân thật và đúng sai - không hề là đạo lư sinh tồn. Các học thuyết xă hội và chính trị - cái phản ánh phần lư tính của đời sống tinh thần con người - dù có bất đồng với nhau về nền tảng hành xử xă hội: nền tảng đó nằm ở các quyền tự do, ở b́nh đẳng, hay ở lợi ích…, nhưng tất cả đều chẳng màng đến cái chuyện sinh tồn làm ǵ cả. Giá trị đạo lư tối hậu mà nhân loại t́m kiếm bấy lâu nay vẫn nằm ở tự do, b́nh đẳng, bác ái, chứ không phải ở sinh tồn.
Do vậy, nói đến trách nhiệm của con người xă hội, trước hết đó chính là trách nhiệm trước tự do, b́nh đẳng, bác ái, chứ không phải trách nhiệm trước sinh tồn, v́ nó chẳng có ai xâm phạm, v́ nó vẫn tự nhiên tiến triển mà chẳng hề có nguy cơ ǵ về mặt truyền giống.
(Xem tiếp phần 3)
[
Next Thread |
Previous Thread |
Next Message |
Previous Message
]
| |